DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 37: Bảy thứ phải chuẩn bị
Sáng hai mươi bảy tháng mười một, sư cô Diệu Tâm sang nhà Thư xem sân và định vị trí đàn lễ. Bà tới vào lúc nắng vừa lên khỏi mặt hồ, đi cùng một chú…
Nội dung chương
Sáng hai mươi bảy tháng mười một, sư cô Diệu Tâm sang nhà Thư xem sân và định vị trí đàn lễ.
Bà tới vào lúc nắng vừa lên khỏi mặt hồ, đi cùng một chú tiểu mang theo túi vải và một cuộn thước dây. Bà Lan đã quét sân từ sớm, tưới nước cho nền gạch ẩm mát, xếp lại những chậu cây cảnh dọc tường để khoảng sân trước nhà trống hẳn ra. Bà Sen ngồi ở hiên, tay lần tràng hạt, mắt dõi theo từng bước chân của sư cô như người đang chứng kiến một việc lớn trong nhà mình được bắt đầu một cách nghiêm chỉnh, không ồn ào, không phô trương.
Sư cô đi chậm một vòng quanh sân. Bà dừng ở gian giữa tầng một, nơi đặt bàn thờ gia tiên, nhìn lên ảnh thờ của cha Thư, rồi quay ra sân, lấy thước dây đo khoảng cách từ bậc thềm tới cổng. Bà chọn vị trí đàn ở giữa sân, lệch về phía cây khế già, nơi mặt sân phẳng nhất và không bị cành cây che ngay trên đầu. Bà nói, đàn không cần lớn, chỉ cần sạch và đúng chỗ. Người sống ngồi ở phía trong nhà nhìn ra, hình nhân đặt ở phía đối diện, sợi chỉ nối giữa hai bên sẽ căng ngang qua khoảng sân này, và cành dâu tằm sẽ đặt ngang cửa sân trong suốt buổi lễ.
- Đêm ấy, cửa sân là ranh giới. Cành dâu đặt ngang cửa, người trong sân không bước ra, người ngoài sân không bước vào, cho tới khi hình nhân được mang đi đốt ở ngã ba đầu ngõ.
Thư ghi lại từng lời vào sổ tay. Cô ghi cả vị trí ngồi của mẹ, của bà ngoại, chỗ đặt đĩa xôi, chỗ đặt con gà, chỗ sư cô sẽ ngồi đọc văn khấn. Khi mọi vị trí đã định xong, sư cô mới ngồi xuống bộ bàn ghế đá ở góc sân, nhận chén trà từ tay bà Lan, và nói tới phần quan trọng nhất của buổi sáng hôm ấy.
- Lễ cắt duyên âm không cần nhiều thứ, nhưng thứ nào cũng không được thiếu, không được thay bằng thứ khác cho tiện. Tất cả có bảy hạng mục. Ta nói một lần, cả nhà nghe cho kỹ rồi chia nhau mà lo.
Bà giơ từng ngón tay, nói chậm rãi.
- Một là hình nhân bện bằng rơm, cao bằng người thật, mặc quần áo nam mới may theo số đo của người lính ấy. Hình nhân là vật thế mạng, đêm lễ nó sẽ nhận vai người chồng âm thay cho người dương, nên phải làm cho tử tế, không được làm qua loa như một món đồ cúng cho xong chuyện.
- Hai là một con gà trống thiến, làm lễ thông linh. Ba là một đĩa xôi gấc đỏ. Bốn là một cành dâu tằm tươi, đặt ngang cửa sân suốt buổi lễ. Năm là sợi chỉ tơ hồng dài đúng một mét, nối từ ngực trái của Thư sang ngực trái của hình nhân. Sáu là kéo đồng tôi qua lửa chu sa, chỉ dùng để cắt sợi chỉ ấy, đúng một nhát. Bảy là bài văn khấn tạ ơn tiền duyên, do ta mang theo và đọc trọn trong đêm lễ, không ai được chen lời.
Bà Sen nghe tới sợi chỉ tơ hồng thì khẽ ngẩng đầu lên. Thư cũng lặng đi một nhịp. Trên cổ tay trái của cô, từ năm mười tám tuổi tới đêm Khải gặp tai nạn, từng có một sợi chỉ đỏ do chính bà ngoại buộc cho khi đi lễ chùa đầu năm. Sợi chỉ ấy đã đứt trong đêm mười bảy tháng chín, không ai cắt, không ai chạm vào. Bây giờ, một sợi chỉ khác sẽ nối cô với hình nhân trong đêm lễ, và sợi chỉ này sẽ được cắt đi bằng một nhát kéo, trước mặt cả nhà, để kết thúc điều mà sợi chỉ cũ đứt đi vẫn chưa kết thúc được.
Sư cô nhìn Thư, như đọc được ý nghĩ ấy.
- Chỉ đỏ ngày xưa là để giữ vía cho một đứa con gái còn chưa biết mình mang nợ gì. Chỉ tơ hồng đêm lễ là mối duyên được đưa ra ngoài ánh sáng để cắt cho đàng hoàng. Hai sợi chỉ khác nhau, con đừng lẫn.
Cả nhà chia việc ngay trong buổi sáng.
Bà Lan nhận phần xôi gấc và các lễ vật ăn uống của đàn. Bà nói sẽ tự tay chọn gấc, tự tay đồ xôi, không mua sẵn ngoài chợ, vì xôi dâng lên tiễn một người đi xa phải do người nhà làm mới thành tâm. Bà cũng nhận việc lo con gà trống thiến, nhờ người quen ở làng Nghi Tàm tìm cho một con khỏe và sạch, nuôi riêng từ bây giờ tới ngày lễ.
Bà Sen nhận phần chiếc khăn thêu của Nhàn. Chiếc khăn thứ hai mà Nhàn đã thêu lại y hệt chiếc khăn mang theo người ra trận cùng Sơn, với cánh sen cuối cùng còn thêu dở, sẽ được đặt vào tay hình nhân trong đêm lễ, như trả lại cho mối duyên món quà của nó.
- Khăn này bạn của bà giữ cả đời không xong, bà giữ thêm ba mươi năm nữa. Tới đêm ấy, bà tự tay đặt nó vào tay hình nhân. Coi như bà trả nó về đúng chủ.
Bà nói câu ấy rất bình tĩnh, nhưng tay lần tràng hạt của bà chậm lại thấy rõ.
Phạm Thu Hằng, được Thư gọi tới từ sớm, nhận phần giúp Thư tìm thợ may. Bộ quần áo nam mới cho hình nhân phải may theo số đo lấy từ dáng người lính trong giấc mơ của Thư và trong tấm ảnh năm 1971: cao, gầy, vai không rộng, một người thanh niên hai mươi ba tuổi của làng quê ngày trước. Hằng ghi lại những mô tả của Thư vào điện thoại, nói sẽ tìm một thợ may già ở phố cổ, người còn biết may kiểu áo cũ, để bộ đồ không trông như một bộ trang phục biểu diễn.
- Tao không muốn nó mặc đồ nhìn giả. Nó đứng thay cho một người thật trong một đêm thật, thì đồ của nó cũng phải thật.
Thư nói vậy khi Hằng hỏi vì sao phải cầu kỳ tới mức ấy. Hằng gật đầu, không đùa như mọi ngày.
Việc bện hình nhân rơm được một ông lão trong làng Nghi Tàm nhận làm. Ông là người còn giữ nghề đan rơm rạ từ thời hợp tác xã, nghe bà Sen kể qua loa rằng nhà cần một hình nhân cao bằng người thật để làm lễ cầu siêu, ông nhận ngay, không hỏi sâu. Ngay buổi chiều hôm ấy, ông mang tới nhà một bó rơm nếp vàng, ngồi ngay ở góc sân mà bện. Đôi tay già của ông làm việc nhanh và chắc. Từng búi rơm được xoắn lại, buộc chặt bằng lạt, dần dần thành hình một thân người: hai chân, một thân mình, hai cánh tay buông xuôi, một cái đầu tròn chưa có mặt mũi.
Thư đứng ở hiên nhìn hình nhân thành hình từng chút một.
Cô đã tưởng mình sẽ sợ. Một hình nhân cao bằng người thật, đứng im trong sân nhà mình, chờ được mặc quần áo và đặt lên đàn lễ, nghe qua đã đủ làm người ta rợn. Nhưng khi nhìn đôi tay ông lão cẩn thận buộc từng mối lạt, nhìn thân rơm vàng dần đứng vững được trên mặt sân, cô không thấy sợ. Cô chỉ thấy một nỗi xót xa lặng lẽ dâng lên. Vài ngày nữa, cái hình hài không mặt mũi này sẽ ngồi đối diện với cô trong đêm, nối với cô bằng một sợi chỉ đỏ dài một mét, và nhận thay cô một mối duyên đã kéo dài qua hai kiếp người. Nó không biết đau, không biết chờ, không biết gì cả. Chính vì thế nó mới có thể nhận thay. Người thật thì không ai nhận thay cho ai được một món nợ như thế.
Khi hình nhân bện xong phần khung, ông lão dựng nó dựa vào tường gian ngoài, phủ lên một tấm vải trắng cho khỏi bụi, rồi ra về. Tấm vải trắng phủ kín từ đầu tới chân làm hình nhân trông càng lặng lẽ. Bà Lan đi qua đi lại mấy lần, mỗi lần đều bước chậm lại khi ngang qua chỗ ấy, không nói gì.
Trong lúc chờ ông lão bện hình nhân, sư cô ngồi lại ở hiên nhà và hỏi Thư về buổi chiều ở bến nước hôm trước. Thư kể chậm rãi, từ con đường xuống bến, bậc đá mòn, mặt nước lặng, cho tới lúc cô đi vòng sang mặt khuất của cây gạo và nhìn thấy hai chữ cái lồng vào nhau dưới lớp rêu. Cô kể cả điều làm cô nhớ nhất: suốt buổi chiều ở đó, vai cô không lạnh một lần nào, và trong sân bến không có một hiện tượng gì khác lạ.
Sư cô nghe hết, không chen một lời, rồi mới gật đầu rất nhẹ.
- Thế là đúng rồi. Nơi ấy không giữ hồn anh ấy. Hồn anh ấy ở trong lời thề, không ở trong cây, không ở trong bến đá. Cây gạo chỉ là nơi hai người trẻ ghi lại một lời hẹn bằng dao, như người ta ghi một cái tên lên trang đầu của một cuốn sách. Con tới được tận nơi, nhìn được tận mắt, là con đã tự mình xác nhận điều cuối cùng còn thiếu: chuyện của kiếp trước không phải do người khác kể lại để con tin, mà là chuyện con đã đứng vào đúng chỗ của nó.
Bà Sen ngồi bên nghe tới đó thì khẽ thở dài.
- Ngày xưa bạn của bà đứng ở bến ấy chờ người ta. Bây giờ cháu của bà cũng đứng ở bến ấy, nhưng đứng để khép lại. Đời người vòng vèo tới mức bà không dám nghĩ nhiều.
Sư cô quay sang Thư, giọng vẫn đều và chậm.
- Từ nay con đừng gọi chuyện này là một cái dớp nữa. Dớp là thứ xui xẻo không có tên tuổi. Còn đây là một người có tên, có tuổi, có làng, có một lời hứa chưa được trả. Đêm lễ, con tiễn một người như thế, chứ không phải xua một thứ gì.
Thư gật đầu. Cô mở sổ tay, ghi thêm một dòng dưới danh sách bảy hạng mục vừa chép, không phải một vật phẩm nào, mà là một câu cô tự dặn mình: gọi đúng tên mọi việc, từ nay tới đêm lễ. Hằng ngồi cạnh nhìn dòng chữ ấy, rồi lặng lẽ ghi vào điện thoại của mình kích thước vai và chiều cao mà Thư vừa ước lượng lại từ tấm ảnh, như sợ để sót một chi tiết nào cho người thợ may.
Buổi chiều xuống dần. Sư cô chuẩn bị ra về, chú tiểu đã xách túi vải chờ ở cổng. Trước khi đi, bà đi một vòng cuối quanh sân, nhìn vị trí đàn một lần nữa, nhìn hình nhân phủ vải trắng ở góc tường, rồi quay lại nói với cả nhà một câu mà giọng bà hạ thấp hơn hẳn mọi câu nói trong ngày.
- Đêm lễ, trong sân chỉ có người nhà và tình thương. Ai mang lòng oán vào sân là lễ hỏng.
Bà nhìn riêng Thư một lúc lâu sau câu nói ấy.
- Nhất là con. Đêm ấy con ngồi gần hình nhân nhất, sợi chỉ nối vào ngực con. Trong lòng con có gì, sợi chỉ biết hết.