DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 38: Điều kiện của buổi lễ
Ngày hai mươi tám tháng mười một, Thanh Thư tới chùa Vạn Niên một mình để nghe sư cô Diệu Tâm nói rõ toàn bộ trình tự và điều kiện của đêm lễ. Cô tới…
Nội dung chương
Ngày hai mươi tám tháng mười một, Thanh Thư tới chùa Vạn Niên một mình để nghe sư cô Diệu Tâm nói rõ toàn bộ trình tự và điều kiện của đêm lễ.
Cô tới chùa vào đầu giờ chiều, khi khách hành hương đã thưa, sân chùa chỉ còn tiếng chổi quét lá của một chú tiểu và tiếng chuông gió treo ở hiên khẽ chạm vào nhau mỗi khi có gió từ phía hồ thổi qua. Sư cô đang ngồi ở gian nhà khách, trước mặt là một khay trà và một cuốn sổ cũ bìa đã sờn. Thấy Thư vào, bà không nói ngay vào việc lễ. Bà rót trà, hỏi cô đêm qua ngủ thế nào, hỏi bà Sen và bà Lan có khỏe không, như một người già hỏi thăm chuyện nhà của một Phật tử quen biết nhiều năm. Chỉ khi chén trà đầu tiên đã cạn, bà mới gấp cuốn sổ lại và nhìn cô thẳng thắn.
- Hôm nay ta nói hết một lần, không giấu con điều gì, cả phần nghi thức lẫn phần khó nhất. Con nghe xong, nếu thấy mình chưa làm được, cứ nói thẳng. Một buổi lễ như thế này, thà hoãn lại còn hơn làm khi lòng người chưa sẵn sàng.
Thư gật đầu, hai tay đặt trên đầu gối, lưng thẳng lên như một học trò chờ nghe bài.
Sư cô bắt đầu bằng cơ chế thế mạng.
Đêm lễ, đàn sẽ lập ở giữa sân nhà cô, đúng vị trí bà đã định hôm trước. Hình nhân rơm mặc quần áo nam mới, đặt ngồi đối diện với Thư. Trong hình nhân ấy không có hồn, không có người, nó chỉ là một hình hài trống được dựng lên để nhận một vai. Khi văn khấn tạ ơn tiền duyên được đọc trọn, mối duyên âm vốn đang bám vào một người sống là cô sẽ được gọi ra, nhìn nhận trước đàn, và chuyển sang hình nhân ấy. Hình nhân nam sẽ đứng vào vai người chồng âm, thế chỗ cho người dương. Nó thay cho mọi người đàn ông bằng xương bằng thịt mà mối duyên này từng ngăn cản. Nó cũng thay cho chính cô ở phía còn lại của lời thề, để lời thề có một chỗ mà khép lại.
- Người sống không cắt được một lời thề của người chết bằng cách quay lưng bỏ đi. Phải có một hình hài đứng ra nhận đủ vai của nó, rồi mới cắt được. Đó là lý do hình nhân phải cao bằng người thật, phải mặc đồ mới, phải được đối xử như một người ngồi trong sân, chứ không phải một món đồ cúng.
Rồi bà nói tới sợi chỉ tơ hồng.
Sợi chỉ dài đúng một mét, một đầu buộc vào ngực trái của Thư, một đầu buộc vào ngực trái của hình nhân. Đó là mối duyên được làm cho hiện hình thành một thứ có thể nhìn thấy, chạm thấy và cắt được. Trong suốt buổi lễ, sợi chỉ ấy phải căng vừa đủ, không chùng xuống đất, không vướng vào lễ vật. Khi giờ hoàng đạo tới, bà sẽ cầm kéo đồng đã tôi qua lửa chu sa và cắt sợi chỉ ấy đúng một nhát, không cắt lại lần thứ hai, không sửa, không do dự. Cắt xong, hình nhân sẽ được mang ngay ra ngã ba đầu ngõ đốt trong đêm, và tới lúc ấy buổi lễ mới thật sự xong.
- Một nhát thôi, con nhớ cho kỹ. Việc gì trong đời cũng thế, đã quyết tiễn nhau thì tiễn cho dứt khoát và tử tế. Cắt đi cắt lại chỉ làm đau thêm.
Thư hỏi giờ cắt chỉ.
Sư cô mở cuốn sổ cũ, lật tới một trang đã đánh dấu bằng một sợi chỉ đỏ, xem lại một lúc rồi mới trả lời. Đêm lễ sẽ là đêm rằm tháng Mười âm lịch, tức đêm mùng bốn tháng mười hai dương lịch năm nay. Đàn bắt đầu từ chín giờ tối. Giờ hoàng đạo để cắt chỉ trong đêm ấy là mười một giờ mười lăm phút đêm. Bà nói rõ, giờ ấy không phải bà tự chọn cho đẹp. Rằm tháng Mười là đêm trăng tròn cuối của mùa thu, cũng là đêm mà theo lệ của chùa, những lễ cầu siêu cho người chết trận không nơi nương tựa vẫn được làm từ xưa tới nay. Chọn đêm ấy là chọn một đêm mà anh ấy không phải là một vong lạc lõng giữa một buổi lễ lạ, mà là một người lính được tiễn đi cùng với rất nhiều người lính khác đã ngã xuống trong cùng một thời.
Nghe tới đó, mắt Thư cay lên. Cô cúi xuống nhìn chén trà của mình một lúc mới nói được.
- Con cảm ơn sư cô đã nghĩ cả tới điều ấy cho anh ấy.
- Ta nghĩ cho cả hai người. Người đi được tiễn đàng hoàng thì người ở lại mới yên lòng mà sống tiếp.
Sau phần nghi thức, sư cô im lặng một lúc lâu. Bà xoay nhẹ chén trà trong tay, rồi đặt xuống, và giọng bà chậm lại, rõ từng chữ, khác hẳn giọng giảng giải từ đầu buổi tới giờ.
- Bây giờ mới tới điều kiện của buổi lễ. Con nghe cho thật kỹ, vì đây mới là thứ quyết định lễ thành hay hỏng, không phải xôi gấc, không phải gà, không phải hình nhân làm khéo tới đâu.
Thư ngồi thẳng hơn.
- Lễ chỉ thành khi chính con dự lễ với lòng cảm tạ và thương xót. Con phải thật lòng cảm ơn người lính ấy. Anh ấy đã giữ trọn lời thề bằng cách duy nhất còn lại cho một người đã chết. Và trong những năm con không hề biết anh ấy tồn tại, anh ấy đã đứng chắn cho con trước hai kẻ lừa đảo suýt lấy mất cả nhà lẫn đất của con. Con phải thương anh ấy, vì một người chờ đợi năm mươi ba năm trong im lặng thì không còn gì đáng giận nữa, chỉ còn đáng thương.
Bà ngừng lại, nhìn sâu vào mắt cô.
- Nếu trong lòng con còn oán hận, dù chỉ một chút, dù con giấu rất khéo và miệng vẫn đọc lời cảm tạ, thì lúc kéo cắt xuống, sợi chỉ sẽ không đứt hẳn. Nó sẽ siết chặt hơn. Duyên âm không những không hết mà còn nặng thêm nhiều năm nữa, và lần sau sẽ khó hơn lần này rất nhiều. Ta nói trước như thế không phải để dọa con. Ta nói vì ta đã thấy những buổi lễ hỏng theo đúng cách ấy.
Thư im lặng rất lâu.
Cô nghĩ về những năm tháng của mình. Cô nghĩ về ba lần hôn sự đổ vỡ, về những đêm mất ngủ vì lạnh vai gáy giữa mùa hè, về cảm giác cáu gắt vô cớ với mẹ và bà, về nỗi tự ti mang tên một cái dớp mà cô từng tin là lỗi của chính mình. Nếu có ai trên đời có lý do để oán hận một người vô hình, thì người ấy là cô. Và cũng chính cô, trong mấy tháng vừa qua, đã đi từng bước một ngược lại với nỗi oán hận ấy. Cô đọc lá thư cuối của anh, nghe người làng kể về Nhàn, đứng ở bến nước nhìn hai chữ cái lồng nhau trên thân cây gạo. Rồi cô hiểu ra rằng kẻ làm lật xe của Khải trong đêm trước ngày ép ký giấy ủy quyền đất không phải một ác ý. Đó là một sự che chắn vụng về và tuyệt vọng của một người không còn cách nào khác để bảo vệ người mình thề sẽ chờ.
- Phần khó nhất không nằm ở nghi thức, con biết.
Cô nói khẽ.
- Nó nằm ở chỗ, từ nay tới đêm ấy, con phải giữ lòng mình cho sạch. Không phải chỉ trong lúc ngồi trước đàn. Mà là thật sự không còn giận nữa.
- Đúng.
Sư cô gật đầu.
- Và còn một việc nữa, việc cuối cùng của đêm lễ, con phải tự làm. Sau khi cắt chỉ và sau khi anh ấy hiện lên, nếu anh ấy hiện lên, nén nhang cầu siêu cuối cùng phải do chính tay con thắp và cắm xuống. Không phải ta, không phải mẹ con, không ai làm thay được. Người mang mối duyên phải là người mở cửa cho người kia đi. Con thắp nén nhang ấy bằng tay mình, trong lúc lòng con đang cảm tạ thật, thì đường đi của anh ấy mới mở.
Thư ghi lại điều ấy vào sổ, chữ của cô chậm và nắn nót hơn hẳn những dòng trước. Nén nhang cuối cùng. Tự tay cô. Không ai thay.
Buổi nói chuyện kết thúc khi nắng chiều đã ngả qua sân chùa. Sư cô tiễn cô ra tới cổng tam quan, dặn thêm rằng từ nay tới đêm lễ, cô nên ăn ngủ điều độ, tránh những chuyện làm mình nổi giận. Nếu có việc gì chưa giải quyết xong với người sống thì giải quyết cho gọn. Nhưng phải giải quyết bằng giấy tờ và sự bình tĩnh, không bằng căm tức.
Thư đứng ở cổng chùa một lúc sau khi sư cô đã quay vào.
Cô mở điện thoại, vào thư mục ảnh, nhìn tấm ảnh chụp xấp giấy ủy quyền đất mà Khải đã soạn sẵn, với hai chỗ trống chờ chữ ký của mẹ cô và của cô. Chỉ nhìn tấm ảnh ấy thôi, một cơn giận quen thuộc đã dâng lên trong ngực cô, cơn giận của người suýt bị lừa mất nhà, mất đất và mất cả cuộc đời vào một cuộc hôn nhân giả. Cô đứng yên, hít thở chậm, và tự nói với mình rất rõ ràng: hồ sơ lừa đảo sẽ được nộp cho cơ quan điều tra, việc ấy không đổi. Nhưng cô sẽ nộp nó sau đêm lễ, khi mọi thứ đã xong, bằng một cái đầu lạnh và một tập giấy tờ đầy đủ. Cô sẽ không nộp nó bây giờ bằng một trái tim đang sôi lên. Cô sẽ không mang cơn giận dành cho một kẻ lừa đảo còn sống vào sân lễ, để rồi lẫn nó với người lính đã chết, và làm hỏng đêm tiễn đưa duy nhất mà anh ấy có được sau năm mươi ba năm chờ đợi.
Trên đường về, cô đi qua một đoạn bờ hồ vắng. Mặt nước chiều nay phẳng và sáng ở phía xa, gần bờ tối dần theo bóng những hàng cây. Cô nghĩ tới đêm lễ sắp tới, tới sợi chỉ dài một mét sẽ căng ngang sân nhà mình, tới một nhát kéo duy nhất vào lúc mười một giờ mười lăm phút, và tới nén nhang cuối cùng mà chỉ tay cô mới thắp được. Cô bỗng hiểu rằng sư cô đã trao cho cô không phải một gánh nặng, mà là một quyền được tự mình khép lại câu chuyện của chính đời mình, không nhờ thầy, không nhờ mẹ, không nhờ bất kỳ ai khác đứng ra quyết thay.
Cô cất điện thoại, quay lại chắp tay vái cổng chùa một vái, rồi đi xuống những bậc đá, về phía con đường ven hồ đang lên đèn.