HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 21: Chuyện phải kể hết
Tối mười bốn tháng mười, mưa rơi đều trên mái lá nhà Lượm từ lúc chạng vạng tới giờ chưa dứt một phút nào. Nước nổi đã lên tới mép sàn. Dưới gầm nhà, mấy…
Nội dung chương
Tối mười bốn tháng mười, mưa rơi đều trên mái lá nhà Lượm từ lúc chạng vạng tới giờ chưa dứt một phút nào.
Nước nổi đã lên tới mép sàn. Dưới gầm nhà, mấy con cá rô đồng quẫy bì bõm trong bóng tối, lâu lâu lại có tiếng đớp mồi nghe rõ mồn một. Con Vện nằm co dưới gầm ghế, đầu gác lên hai chân trước, thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn ra cửa rồi lại nằm xuống, ngoan một cách lạ thường.
Lượm ngồi ở đầu bàn, trước mặt là ấm trà nguội quá nửa. Ông đã ngồi như vậy rất lâu, tay phải đặt lên ngực, nơi chiếc nanh bọc bạc nằm yên dưới lớp áo bà ba sẫm màu. Nó không nóng. Suốt buổi chiều nó chỉ âm ấm, ấm hơn da người một chút, như một vật đang ngủ mà chưa ngủ hẳn. Chính cái âm ấm dai dẳng đó làm ông quyết định. Mười ngày nay, kể từ đêm bị trói ở bìa lung, ông đã giấu thêm một lần nữa. Ông giấu Phúc chuyện mình linh cảm con vật ở Đất Lính không phải heo rừng thường. Ông giấu Toàn chuyện chiếc nanh này từ đâu mà có, ngoài mấy câu mơ hồ hồi con bé Trâm hỏi. Giấu nữa, ông sợ có ngày người ta chết vì cái mình không nói.
- Ngồi xuống hết đi, ông nói. - Tối nay tao kể một chuyện. Kể hết, không giấu khúc nào nữa.
Toàn kéo ghế ngồi đối diện, còn Phúc ngồi phía bên phải, đặt cuốn sổ ghi chép và cây viết lên bàn theo thói quen cán bộ. Phúc nhìn ông, chờ đợi. Mấy ngày qua Phúc đã quen với cách nói vòng vo của dân đi rừng, nói ba câu thì hai câu là để thăm chừng người nghe có tin hay không. Nhưng tối nay giọng Lượm khác. Nó chậm, nặng, và không có chỗ nào để đùa.
- Chuyện này, mở đầu phải nói cho rõ một câu trước, Lượm nói. - Chiếc nanh trên cổ tao, nó không phải nanh của một con heo đã chết.
Toàn ngẩng phắt lên.
- Ba nói sao? Toàn hỏi. - Hồi đó giờ ba nói nanh này của ông nội để lại, heo rừng ông nội săn được hồi xưa.
- Ông nội để lại, đúng. Lượm gật đầu. - Nhưng ông nội không săn được nó. Cả đời ông nội, từ ngày gặp nó, ổng không dám giơ súng về phía Đất Lính lần nào nữa. Mày nghe cho hết rồi hẵng hỏi.
Phúc mở sổ, viết mấy dòng đầu tiên, rồi dừng viết, ngẩng lên:
- Chú Lượm, nếu chuyện này liên quan tới con vật ở Đất Lính, cháu cần chú kể có mốc thời gian rõ ràng. Năm nào, ở đâu, ai chứng kiến. Cháu không ghi chuyện ma chay vào hồ sơ được, nhưng cháu cần hiểu chú đang dựa vào cái gì mà quả quyết như vậy.
- Tao kể có năm có tháng, Lượm nói. - Còn tin hay không là việc của mày. Tao sáu mươi tám tuổi rồi, tao không cần ai tin để sống. Tao chỉ cần tụi bây biết trước khi bước vô đó lần nữa.
Mưa gõ lên mái lá từng đợt, gió lùa qua vách làm ngọn đèn dầu trên bàn chao nhẹ. Bóng ba người đổ dài lên vách gỗ, nhập nhòe. Lượm rót trà ra ba cái chén sành, đẩy về phía hai người, rồi mới chậm rãi tháo sợi dây đeo nanh ra khỏi cổ. Đây là lần hiếm hoi ông tháo nó vào buổi tối, khi chưa đi ngủ. Chiếc nanh nằm trong lòng bàn tay ông, dài hơn gang tay người lớn một chút, cong nhẹ, chân nanh gãy gồ ghề chứ không phải cắt gọt mà thành. Phần bạc bọc quanh thân đã xỉn màu theo năm tháng, trên đó những nét khắc chìm nổi mờ dần, phải nghiêng ra ánh đèn mới thấy rõ từng nét một.
Toàn nhìn chiếc nanh như nhìn lần đầu. Anh đã thấy nó trên cổ cha từ nhỏ, tắm sông cũng thấy, đi rừng cũng thấy, nó quen thuộc tới mức anh chưa bao giờ nhìn kỹ. Giờ đặt trên bàn, giữa ánh đèn dầu, nó bỗng thành một vật lạ. Nó dài quá khổ so với bất kỳ chiếc nanh heo rừng nào anh từng thấy ở chợ, ở nhà hàng xóm, ở những lần theo cha cân trăn cho lái buôn. Nanh heo rừng thường, con đực già nhất cũng chỉ bằng nửa này.
- Hai mươi hai phân, Lượm nói như biết con đang nghĩ gì. - Đo rồi. Nanh hàm dưới, bên phải. Gãy ở chân.
- Của con heo ở Đất Lính thiệt hả ba? Toàn hỏi khẽ.
- Tao nói một câu này, mày nhớ lấy. Lượm nhìn thẳng vào mắt con trai. - Con heo ở Đất Lính mà đoàn mình đụng mấy bữa nay, rất có thể chính là chủ nhân của chiếc nanh này. Tao không dám nói chắc trăm phần trăm, vì tao chưa giáp mặt nó gần đủ để đếm, mà cũng không ai dại gì tới gần mà đếm. Nhưng những gì tao biết, những gì ông nội kể lại, nó khớp nhau từng chút một. Khớp tới mức tao lạnh gáy.
Phúc viết nhanh mấy dòng, cây viết sột soạt trên giấy. Anh không chen vào, chỉ thỉnh thoảng gật đầu ra hiệu cho ông cứ kể tiếp. Nghề của Phúc dạy anh một điều: khi người ta đã quyết kể hết, đừng ngắt lời bằng câu hỏi dở dang. Cứ để họ đi hết con đường họ đã chọn mở miệng.
- Sao ba giấu con chuyện này suốt bao nhiêu năm? Toàn hỏi, giọng đã bớt sững sờ, chuyển sang trách móc âm ỉ. - Con gạ ba bán nanh, ba mắng con một trận, con tưởng ba tiếc của gia truyền. Ai dè...
- Tao giấu, vì ông nội dặn giấu, cha tao cũng giấu tao gần hết đời ổng. Lượm nói. - Tới năm tao mười tám, ông nội mới kể tao nghe lần đầu, trong một đêm mưa còn lớn hơn đêm nay. Rồi ổng dặn: chuyện này, người giữ nanh biết là đủ, nói ra miệng thiên hạ, họ hoặc cười, hoặc kéo nhau vô rừng tìm nó, cả hai đường đều chết người. Tao giữ lời dặn đó năm mươi năm. Đêm nay tao phá lệ, vì thiên hạ đã kéo vô rừng thiệt rồi, và đã có xương người chết bị tụi nó đổ xuống đầm.
Câu nói làm căn nhà im đi một lúc. Ngoài kia, tiếng máy ghe xa xa trên kinh lớn vọng lại, rè rè rồi tan trong mưa. Toàn cúi đầu, hai tay đan vào nhau. Anh nhớ lại đêm mười tháng mười, cái bóng đen dài lướt dưới đáy ghe của nhóm cát tặc, rồi đổi hướng đi về phía xuồng hai cha con. Anh nhớ đàn chó nằm bẹp ngày tám tháng mười, nhớ sự im lặng tuyệt đối giữa ban ngày trong rừng tràm. Những mảnh rời rạc mấy ngày qua bỗng có một sợi dây xâu qua, và sợi dây đó đang nằm trên bàn, trong ánh đèn dầu.
- Vậy ông nội gặp nó mấy lần, ba? Toàn hỏi.
- Hai lần giáp mặt trong đời, Lượm nói. - Lần đầu năm một chín sáu tám. Lần sau tháng hai năm một chín bảy lăm. Hai lần đó, lần nào cũng đổi đời một con người. Lần đầu, nó mang ơn ông nội. Lần sau, ông nội mang ơn nó. Nợ qua nợ lại như vậy, mà nhà mình giữ chiếc nanh này tới đời tao, rồi sau này...
Ông dừng lại, không nói hết câu sau này. Ông không muốn đêm nay đặt thêm gánh lên vai Toàn, khi chuyện cũ còn chưa kể xong. Có những thứ phải đi từng bước, như lội rừng gặp lung sâu thì phải dò từng bước một, dẫm bừa là sụp.
Phúc lật sang trang mới của cuốn sổ.
- Chú kể từ đầu đi chú, Phúc nói. - Từ đời ông nội chú.
Lượm gật đầu. Ông cầm chiếc nanh lên, đeo lại vào cổ, để nó nằm đúng chỗ trước ngực như mọi ngày. Lạ một điều, vừa đeo vào, ông cảm thấy nó ấm lên một chút nữa, không nóng, chỉ ấm, như thể chính câu chuyện sắp kể cũng có người đang lắng nghe từ một nơi rất xa trong rừng. Ông đưa tay vuốt mặt, bắt đầu kể, giọng đều đều như kể cho con cháu trong nhà nghe chuyện đời xưa, mà thật ra đúng là như vậy, chỉ khác là đêm nay có thêm một người cán bộ ngồi ghi chép.
- Ông nội tao tên Trần Văn Kỉnh. Ông sinh năm một chín hai tám, mất năm hai ngàn lẻ ba, thọ bảy mươi lăm tuổi. Dân ấp này bây giờ, lớp biết mặt ông không còn mấy người, chỉ còn lớp già như tao với thằng Tám Rắn là nhớ. Hồi còn sống, người ta kêu ổng là Kỉnh Tràm, vì ổng thuộc rừng tràm như thuộc lòng bàn tay, đi đêm không cần đèn, nghe tiếng nước chảy là biết kinh nào cạn kinh nào sâu.
- Gan lì nhất vùng, Lượm nói tiếp. - Thời chiến tranh, rừng này là rừng của du kích, cũng là rừng của bom đạn. Ông nội vừa đi săn nuôi nhà, vừa làm liên lạc, đưa người, đưa thư, giấu cán bộ trong những căn hầm bí mật quanh vùng Đất Lính bây giờ tụi bây gọi. Súng ổng bắn ít khi trật. Trăn, heo rừng, cá sấu, thứ gì trong rừng này ổng cũng từng hạ. Vậy mà có một thứ, ổng gặp một lần là ổng buông súng cả đời đối với nó.
Toàn nuốt nước bọt. Phúc viết chậm lại, ngẩng lên nghe.
- Hồi đó tao mười một tuổi, Lượm kể, mắt nhìn vào ngọn đèn mà như nhìn xa hơn vách nhà. - Tao nhớ ông nội ngồi võng, mỗi lần uống rượu đế là lại nhìn về phía rừng sâu mà nói một câu: trong rừng này có một ông thần còn sống, tụi bây đi rừng, gặp đất của ổng thì tránh, gặp dấu của ổng thì quay đầu. Con nít nghe thì sợ, người lớn nghe thì cười, tưởng ổng già rồi nói chuyện hoang đường cho vui miệng. Tới năm tao mười tám, ổng mới cho tao biết ông thần đó là ai.
- Là con heo sáu nanh, Phúc nói, nửa hỏi nửa khẳng định.
- Ừ, Lượm gật. - Ông Heo Sáu Nanh. Dân vùng này truyền miệng nhau cái tên đó từ thời ông cố tao, lớp trước nói lớp sau nghe, không ai dám chắc nó sống bao lâu. Có người nói trăm năm, có người nói hơn. Tao không biết. Tao chỉ biết năm một chín sáu tám, nó đã già lắm rồi, già hơn cả rừng này trong con mắt ông nội tao, mà tới nay năm mươi bảy năm sau, dấu của nó ở Đất Lính vẫn còn mới nguyên như in hôm qua.
Toàn ngồi thẳng dậy. Con số năm tháng vừa nghe làm anh choáng. Một con vật sống qua hai, ba thế hệ thợ săn, qua cả một cuộc chiến tranh, qua bom đạn, qua bao mùa nước nổi, vẫn nằm yên trong lung sâu canh một trảng đất có người chết nằm. Nếu là người khác kể, Toàn đã cười trừ. Nhưng người kể là cha anh, người cả đời chưa từng nói một câu nào không chắc, và bằng chứng thì anh đã thấy tận mắt mấy ngày qua bằng chính đôi mắt mình.
- Kể đi ba, Toàn nói khẽ. - Con nghe.
Lượm hít một hơi dài. Mưa ngoài mái vẫn đều đều. Chiếc nanh trước ngực ông ấm lên thêm một nấc nữa, rất khẽ, rất chậm, như nhịp thở của một con vật khổng lồ nào đó đang trở mình trong đầm xa. Ông đặt tay lên nó, giữ yên, rồi nói câu mở đầu của câu chuyện năm mươi năm:
- Lần đầu ông nội tao gặp nó, nó đang bị một cái bẫy siết gần chết. Mà nó lúc đó đã già hơn cả rừng này rồi.
---