HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 24: Chín chữ bùa
Ba ngày sau khi được cứu khỏi hầm sập, ông Kỉnh ôm chiếc nanh đi thị trấn U Minh. Chân ông còn cà nhắc, vết rách trên trán mới đóng mày, nhưng ông không…
Nội dung chương
Ba ngày sau khi được cứu khỏi hầm sập, ông Kỉnh ôm chiếc nanh đi thị trấn U Minh.
Chân ông còn cà nhắc, vết rách trên trán mới đóng mày, nhưng ông không chờ được. Chiếc nanh nằm trong ngực áo ông suốt ba ngày đó cứ lạnh ngắt một cách kỳ lạ, lạnh xuyên qua lớp vải, lạnh cả trong những buổi trưa nắng gắt nhất. Đêm nằm ngủ, ông để nó trên bàn thờ, sáng ra sờ vào vẫn thấy lạnh như vừa vớt dưới đầm lên. Ông là thợ săn, không phải thầy pháp, ông biết có những chuyện trong rừng mình không hiểu được thì phải tìm người hiểu mà hỏi. Và cả vùng U Minh năm đó, nói tới chuyện bùa chú Lỗ Ban, chỉ có một cái tên mà ai cũng phải gật đầu: thầy Sáu Xương.
Lượm năm đó mười tám tuổi, chèo xuồng đưa ông nội đi. Chuyến đi đó in vào trí nhớ ông rõ tới từng chi tiết. Vì đó là lần đầu tiên trong đời ông thấy ông nội mình, người gan lì nhất vùng, ngồi im lặng suốt một chặng kinh dài mà không nói một câu nào, tay cứ đặt trên ngực áo như sợ đánh rơi thứ gì.
Nhà thầy Sáu Xương nằm ở cuối một con xóm thợ mộc. Thầy vừa là thợ mộc giỏi nhất vùng, bàn ghế đình chùa quanh huyện phần lớn qua tay thầy, vừa là thầy bùa Lỗ Ban được truyền nghề từ đời ông cố. Năm đó thầy sáu mươi tuổi, người khô gầy, mắt sáng quắc, tay làm mộc mà ngón nào ngón nấy khéo như tay thợ thêu. Dân trong vùng kính thầy không phải vì sợ bùa, mà vì thầy có một nguyên tắc chưa từng phá. Bùa của thầy chỉ để giữ yên nhà, yên người, chưa bao giờ thầy nhận khắc một lá bùa nào để hại người hay để ép buộc thứ gì ngoài ý nó.
Ông Kỉnh đặt chiếc nanh lên bàn làm việc của thầy, giữa những cây đục, cây bào xếp ngay ngắn.
Thầy Sáu Xương không cầm lên ngay. Thầy nhìn nó rất lâu, nhìn từ chân gãy tới đầu nhọn, nhìn tới mức ông cháu Kỉnh ngồi chờ mà không dám thở mạnh. Rồi thầy mới dùng hai tay nâng nó lên, đưa ra ánh sáng cửa sổ, xoay qua xoay lại, lấy ngón tay miết dọc thân nanh như người thợ kiểm một thớ gỗ quý. Mặt thầy càng lúc càng nghiêm lại.
- Nanh này, thầy nói chậm rãi, - không phải của heo chết. Nó là nanh của một ông thần rừng còn sống. Ông Kỉnh, ông mang nó về được tới đây, hoặc là phúc nhà ông lớn lắm, hoặc là họa nhà ông cũng lớn không kém. Ông kể thiệt hết cho tôi nghe đi, đừng giấu một chữ.
Ông Kỉnh kể hết. Chuyện năm một chín sáu tám tháo bẫy băng lá thuốc. Chuyện hầm sập tháng này, chuyện con heo đào đất kéo ông ra, chuyện chiếc nanh vướng gốc dầu bật gãy. Thầy Sáu ngồi nghe không ngắt lời một lần nào, chỉ có đôi mắt là càng lúc càng sâu xuống. Kể xong, gian nhà thợ mộc im lặng một lúc lâu, chỉ còn tiếng bào gỗ của người thợ học việc ngoài sân vọng vào từng nhịp.
- Nó nhớ ơn bảy năm, thầy nói. - Thú mà nhớ ơn bảy năm, lại trả ơn bằng máu của chính nó, thì nó không còn là thú thường nữa. Đất nó ở, nước nó uống, người ngoài đừng có dại mà động vào. Ông giữ chiếc nanh này, ông Kỉnh, là ông giữ một món nợ ân tình, không phải giữ một món của. Nhớ cho kỹ câu đó.
Rồi thầy nhận lời khắc bùa.
Thầy làm việc đó trong ba buổi chiều liên tiếp, và ông Kỉnh ngồi chứng kiến đủ cả ba buổi, còn Lượm mười tám tuổi ngồi ngoài hiên, thỉnh thoảng được gọi vào phụ giữ đèn dầu cho sáng. Thầy dùng một cây đục nhỏ đầu nhọn, khắc lên thân nanh chín chữ bùa Lỗ Ban, nét nào nét nấy sâu và đều, vừa khắc vừa đọc thầm những câu chú mà người ngoài nghe không hiểu được một chữ. Chín chữ đó là chín chữ gì, thầy không giải nghĩa hết. Thầy chỉ nói một phần mà người giữ nanh cần biết, và nói rất rõ ràng, rành mạch, như dặn một điều luật không được phép hiểu sai.
- Bùa này, thầy nói, tay vẫn không ngừng đục, - chỉ có hai việc. Một là nó báo cho người đeo biết khi điềm gở tới gần. Nanh của thần rừng, nó cảm được hơi của chủ nó và hơi của đất nó canh, đeo lên cổ người trong nhà ông, yên thì nó lạnh, động thì nó nóng. Hai là nó giữ cho người đeo được yên: thú dữ trong rừng không động tới người đeo, thứ dưới nước cũng không dám kéo chân người đeo. Chỉ hai việc đó thôi.
Ông Kỉnh hỏi lại một câu, câu hỏi mà về sau Lượm nghe ông nội thuật lại và nhớ suốt đời:
- Vậy đeo nó, có sai khiến được con heo đó không, thầy Sáu? Gặp lúc nguy cấp, có gọi nó ra được không?
Cây đục trên tay thầy dừng lại.
Thầy ngẩng lên, nhìn ông Kỉnh thẳng mặt, giọng nghiêm tới mức người học việc ngoài sân cũng phải ngừng bào:
- Ông nghĩ ngược như vậy là tự chuốc họa cho cả nhà. Tôi nói một lần này thôi, ông nhớ tới chết: bùa chỉ giữ cho người đeo được yên, không sai khiến được thần rừng. Thần rừng không phải con chó giữ nhà để ai cầm được một chiếc nanh của nó là huýt sáo gọi tới. Nó cứu ông vì nó nhớ ơn ông, không phải vì chiếc nanh này bắt nó phải cứu. Ngày nào người nhà ông đeo nanh này mà nảy lòng tham, tưởng mình sai khiến được nó, ngày đó cái yên này hết linh, mà họa thì tới ngay.
Khắc xong chín chữ, thầy lấy bạc lá bọc quanh phần thân nanh, vừa để giữ những nét khắc không mòn theo năm tháng, vừa làm cho chiếc nanh thành một vật đeo được trước ngực. Thầy tự tay ghi việc này vào cuốn sổ khắc bùa gia truyền của dòng họ Trịnh, ghi ngày tháng, ghi tên người mang nanh tới, ghi cả lai lịch chiếc nanh theo lời ông Kỉnh kể. Cuốn sổ đó, về sau này, vẫn còn nằm ở nhà cháu của thầy ở thị trấn U Minh, nhưng chuyện đó là của nhiều chục năm sau.
Trước khi ông cháu Kỉnh ra về, thầy Sáu Xương dặn thêm một câu cuối, trao chiếc nanh tận tay như trao một vật nặng hơn sức nặng của nó nhiều lần:
- Đeo nó như đeo một món nợ ân tình. Nó ở trên cổ nhà ông đời nào, nhà ông phải nhớ đời đó: đất của nó, tránh. Người của nó canh, đừng động. Tới ngày nào món nợ được trả xong, tự khắc mọi chuyện sẽ yên.
Ông Kỉnh đeo chiếc nanh đó suốt phần đời còn lại.
Ông mất năm hai ngàn lẻ ba. Trước ngày mất không lâu, ông gọi cha của Lượm là Trần Văn Bảy vào phòng. Ông tự tay tháo chiếc nanh khỏi cổ mình, đeo lên cổ con trai, dặn đúng một câu ngắn gọn như tính ông cả đời: đeo nó, đừng bao giờ bán, và đừng bao giờ quên nó là của ai. Cha Bảy giữ chiếc nanh mười hai năm, ít vào rừng sâu hẳn từ ngày cha mình mất, chỉ đi những chuyến gần. Tới năm hai ngàn mười lăm, cha Bảy lâm chung, chiếc nanh lại được trao sang cổ Lượm, kèm lời dặn y như lời dặn của ông nội năm xưa, không thêm một chữ nào. Ba đời thợ săn, một chiếc nanh, một lời dặn lặp lại y nguyên.
Lượm kể tới đây thì câu chuyện trở về trọn vẹn với gian nhà ở ấp Kinh Ba, ngày mười lăm tháng mười năm hai ngàn hai mươi lăm.
Trời đã hửng sáng từ lúc nào ngoài cửa, mưa đêm qua đã tạnh hẳn, chỉ còn nước nhỏ giọt từ mái lá xuống nền đất thành từng nhịp thưa. Toàn ngồi im rất lâu, mặt anh đã hết vẻ sững sờ của đêm qua, chỉ còn lại một sự nặng nề như người vừa nhận thêm một phần việc của đời mình mà không được quyền từ chối. Phúc gấp cuốn sổ ghi chép lại. Cháu viết tới mấy trang, trang nào cũng kín chữ, có những chỗ anh phải gạch xóa vì tay viết không theo kịp lời kể.
- Cháu cảm ơn chú, Phúc nói. - Chuyện này cháu không đưa vào hồ sơ chính thức được, chú hiểu cho cháu. Nhưng cháu ghi riêng, và cháu nói thiệt: nghe hết rồi, cháu nhìn chuyện ở Đất Lính khác hẳn hôm qua. Con vật đó nó canh đất đó có lý do của nó, và lý do đó còn lâu hơn cả đơn vị của cháu đóng ở đây.
- Mày tin được mấy phần thì tin, Lượm nói, không trách móc. - Tao kể không phải để đưa vô hồ sơ. Tao kể để tối nay, nếu có bước vô đó nữa, tụi bây biết mình đang bước vô đất của ai, và trên cổ tao đang đeo thứ gì.
Đúng lúc đó, điện thoại của Phúc reo.
Phúc nghe máy, mặt anh đổi sắc ngay từ mấy câu đầu. Anh đứng dậy, đi ra hiên nghe tiếp, giọng hạ thấp nhưng gấp gáp. Toàn nhìn cha, Lượm nhìn Phúc, cả hai đều linh cảm được nội dung cuộc gọi trước khi Phúc quay vào, vì trong những ngày này, điện thoại reo vào giờ sáng sớm ở nhà Lượm chưa từng mang tin lành.
Phúc quay vào, điện thoại còn cầm trên tay:
- Tin từ đầu kinh, Phúc nói nhanh. - Đêm qua, một chiếc ghe của nhóm cát tặc ở lung gần Đất Lính nghe có vật rất lớn cọ dưới đáy ghe. Người báo tin là chủ quán nước, ghe bà con của bà ấy đi sớm ngang qua nghe người trên ghe kể lại: cả nhóm hò hét bỏ chạy khỏi lung ngay trong đêm, không dám ở lại. Chưa rõ vật đó là thứ gì.
Toàn đứng bật dậy. Lượm cũng đứng dậy, chậm hơn con trai, nhưng ánh mắt ông đã thay đổi hẳn. Ông đưa tay chạm lên chiếc nanh trước ngực: nó đang nóng dần lên trong lòng bàn tay ông, nóng khác hẳn cái âm ấm suốt buổi tối kể chuyện, nóng như một lời xác nhận vừa tới muộn một đêm.
Ông bước tới góc nhà, lấy con dao rừng vẫn dùng đi bẫy trăn xuống khỏi vách, kiểm tra lưỡi dao một cái theo thói quen rồi giắt vào hông.
- Nó đã để ý tới người lạ trong lung rồi, Lượm nói, giọng trầm xuống. - Nó nhịn tới hôm nay là quá lâu rồi.
---