HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 26: Cái chết của Tài Xáng
Chuyện đêm mười tám tháng mười, Lượm nghe Sang kể lại trong nước mắt. Đó là đoạn kể khó khăn nhất trong buổi chiều ở quán nước đầu kinh ngày hai mươi…
Nội dung chương
Chuyện đêm mười tám tháng mười, Lượm nghe Sang kể lại trong nước mắt.
Đó là đoạn kể khó khăn nhất trong buổi chiều ở quán nước đầu kinh ngày hai mươi tháng mười. Sang kể tới đâu thì dừng lại tới đó, hai tay ôm đầu, có lúc phải xin Lượm chờ một chút cho anh thở. Lượm không giục. Ông ngồi im, để cho người thanh niên hai mươi tám tuổi đó tự đi hết con đường của mình, vì ông biết có những chuyện nếu không nói ra được một lần trọn vẹn, nó sẽ ở lại trong người ta suốt đời. Về sau, Phong cũng xác nhận lại từng chi tiết trong lời khai của mình. Đêm đó, đêm một người đàn ông ba mươi chín tuổi chết dưới bùn đen Đất Lính, được hai người sống sót kể lại khớp nhau tới từng nhịp.
Sau đêm ghe lật, nhóm cát tặc mất một chiếc ghe và một phần máy móc.
Một phần của giàn xáng và đoạn cáp chính vẫn còn nằm dưới mép đầm gần miệng hố đào, chỗ chiếc ghe phụ bị sóng đánh dạt vào từ trước. Hùng không chịu bỏ. Theo lời Sang, Hùng nói bộ máy đó là tiền, là phần lớn vốn liếng ông ta đã ứng trước cho cả chuyến này, bỏ là cả nhóm trắng tay, mà chuyến cuối vẫn chưa đào xong. Vậy nên đêm mười tám, cả nhóm quay lại miệng hố đào ở Đất Lính để trục vớt phần máy còn lại, đồng thời đào thêm một ca đêm nữa theo lệnh Hùng.
Tài là người lội xuống nước.
Anh là thợ lái xáng, rành máy móc nhất nhóm, và cũng là người duy nhất biết chính xác đoạn cáp cần móc nằm ở đâu dưới lớp bùn. Đêm đó nước ở mép đầm ngang tới ngực anh. Anh buộc một đầu dây thừng quanh thắt lưng, đầu kia Sang và Phong giữ trên bờ, tay cầm móc sắt, lần từng bước xuống chỗ giàn xáng chìm. Đạt đứng trên miệng hố giữ đèn pin lớn, rọi xuống mặt nước đen cho Tài thấy đường. Hùng đứng phía sau, liên tục thúc: nhanh lên, móc xong kéo lên là về lán, đêm nay làm gọn một ca nữa rồi nghỉ.
Sang kể, những phút đầu mọi chuyện vẫn bình thường. Tài lần xuống, móc được một đầu cáp, ra hiệu cho trên bờ kéo thử, giàn xáng dưới bùn nhúc nhích được một chút. Anh lặn xuống thêm lần nữa để móc đầu cáp thứ hai cho chắc, đầu khuất hẳn dưới mặt nước mấy giây rồi trồi lên, phì nước ra và nói vọng lên một câu mà về sau Sang còn nghe văng vẳng trong đầu nhiều đêm liền.
- Được rồi, kéo từ từ thôi, nó lên...
Câu nói chưa dứt.
Tài bỗng vùng vẫy dữ dội. Cả thân người anh giật mạnh về phía lòng đầm như bị một sức kéo bất ngờ từ dưới nước giật lấy. Anh hét lên, một tiếng hét mà Sang nói khác hẳn mọi tiếng hét anh từng nghe trong đời, vì nó là tiếng hét của một người vừa nhận ra thứ đang nắm lấy mình không phải là vật vô tri. Một tay anh quờ lên mặt nước đập loạn xạ, tay kia cố bám vào đoạn cáp. Đạt ở trên bờ rọi đèn thẳng xuống, giọng lạc đi, la lớn:
- Chân nó! Có cái gì kéo chân nó!
Về sau, khi kể lại cho Lượm nghe, Sang nói anh đứng trên bờ giữ đầu dây thừng mà cảm được rõ từng cơn giật truyền qua sợi dây. Không phải giật của một người đang vùng vẫy tự do, mà là giật của một người bị kéo xuống từng nhịp, mạnh và lạnh lùng. Đạt bỏ đèn, nhào tới giữ dây cùng Sang và Phong. Ba người đàn ông ghì chặt sợi dây, gân tay nổi lên, kéo ngược về phía bờ. Dưới nước, Tài trồi lên được một lần cuối, mặt anh trắng bệch trong ánh đèn pin, miệng chỉ kịp kêu một tiếng gọi tên Hùng, như một phản xạ của người sắp chết đuối gọi kẻ đã đưa mình tới chỗ này.
Đúng lúc đó, miệng hố đào sập xuống.
Cái hố mà máy xáng của Tài đã múc sâu suốt nhiều đêm, chân hố bị khoét rỗng từ bên trong, thành đất chỉ còn là một lớp vỏ mỏng ngâm nước nhiều ngày. Sức nặng của đống đất xương chất trên miệng hố, cộng với những cơn rung từ cuộc giằng co ngay bên dưới, làm cả một mảng thành hố lớn bất ngờ trượt xuống. Hàng tấn đất và bùn đen đổ ập về phía mép đầm trong một tiếng ầm trầm đục, nước đầm cuộn lên thành một xoáy bùn đặc quánh, nuốt chửng mọi thứ trong phạm vi của nó chỉ trong vài chục giây.
Tài biến mất trong xoáy bùn đó, cùng với sợi dây thừng tuột khỏi tay ba người trên bờ.
Những gì diễn ra sau đó, Sang kể trong tiếng nấc nghẹn. Cả nhóm lao xuống, không còn ai nghĩ tới sợ hãi nữa. Đạt bất chấp cổ chân từng bị kéo hôm trước, lội thẳng vào vùng bùn đang sủi bọt, hai tay cào bới trong vô vọng. Phong vừa khóc vừa gọi tên Tài. Sang lặn xuống ba lần, mỗi lần ngoi lên là một miệng đầy bùn đen, tay anh quờ quạng trong lớp bùn dày đặc mà không chạm được thứ gì ngoài rễ tràm và đất nhão. Hùng, kẻ lì lợm nhất nhóm, lúc đó cũng xuống nước, móc đoạn cáp dài ra mà quăng xuống theo hướng Tài chìm, hy vọng anh còn bám được vào đâu đó. Họ đào bằng tay, bằng xẻng, bằng bất cứ thứ gì vớ được trên bờ, đào tới rách da, tới bật móng, trong ánh đèn pin loang loáng và tiếng gọi tên nhau khản đặc.
Nhưng bùn của Đất Lính, một khi đã nuốt người, không trả lại ngay.
Phải tới khi trời gần sáng, khi nước đầm rút xuống một chút và xoáy bùn đã lắng hẳn, cả nhóm mới kéo được Tài lên từ lớp bùn ở mép hố sập. Đã quá muộn từ lâu rồi. Sang là người ôm lấy bạn mình trước tiên. Anh kể, anh không dám nhìn lâu, cũng không cần nhìn lâu, vì chỉ cần ôm lên là biết. Cả nhóm ngồi chết lặng quanh thi thể người thợ lái xáng trên miệng hố đào tan hoang, không ai nói được một câu nào, chỉ có tiếng nước đầm vỗ nhè nhẹ vào bờ và tiếng Đạt khóc thành tiếng, khóc như một đứa trẻ.
Lượm nghe tới đây thì nhớ lại những gì ông biết về người vừa chết, ít ỏi mà đủ để thấy xót xa. Lê Văn Tài, ba mươi chín tuổi, thợ lái xáng cạp có tay nghề giỏi nhất nhì vùng kinh này, ít học, nói năng cục mịch mà hiền. Anh theo Hùng chuyến này không phải vì tham, mà vì đã lỡ nhận một khoản tiền ứng trước để trả nợ và lo cho nhà, nhận rồi thì không còn đường lui, Hùng nhắc món nợ đó mỗi khi anh tỏ ý muốn nghỉ. Sang kể, trong nhóm, Tài là người duy nhất chưa từng lớn tiếng với ai, phần nặng nhọc nhất của máy móc lúc nào cũng tới tay anh. Và cũng chính anh là người trong đêm đào trúng hố bom đã đứng lặng rất lâu trước những bao xương người trước khi miễn cưỡng làm theo lệnh Hùng. Một người như vậy, chết không phải vì gan lì hay vì tham lam của chính mình, mà vì bị xô dần từng bước tới mép đầm đó bởi nợ nần và bởi mệnh lệnh của kẻ khác. Điều đó làm cái chết của anh, trong tai người nghe là Lượm, còn nặng hơn cả cách anh chết. Ông ngồi nghe mà bàn tay đặt trên đùi siết lại lúc nào không hay. Một thợ săn cả đời như ông hiểu rõ luật rừng: ai vào đất có chủ mà không biết dừng, người đó phải trả giá, sớm hay muộn. Nhưng giá phải trả bằng cách bị chôn vội không một nén nhang, không một người thân bên cạnh, thì đó không còn là luật rừng nữa. Đó là tội của người sống đối với người chết, chồng lên trên tội của người sống đối với những người đã chết nằm dưới Đất Lính từ năm nào.
Người đầu tiên phá vỡ sự im lặng đó là Hùng.
Không phải bằng một lời chia buồn. Hùng đứng dậy, mặt ông ta trong ánh sáng tờ mờ của buổi sớm xám xịt và cứng lại như đá. Rồi ra một mệnh lệnh mà Sang nói chính là giây phút anh bắt đầu căm người đàn ông này: chôn Tài ngay tại bìa rừng, không báo chính quyền, không đưa về quê, không một nén nhang đàng hoàng. Hùng nói nếu báo lên, công an và kiểm lâm sẽ ập vào, cả nhóm đi tù, chuyến cát coi như mất trắng, tiền nợ của Tài ở nhà cũng không ai trả thay. Ông ta ép từng người trong nhóm thề im lặng ngay bên thi thể bạn mình: chuyện đêm nay, đứa nào hé miệng, đứa đó tự chịu.
Sang là người khiêng bạn đi chôn.
Bốn người đàn ông còn lại đào một cái huyệt cạn ở bìa rừng, cách xa miệng hố đào, trong lúc trời sáng dần. Sang kể, tay anh run tới mức không cầm nổi cán xẻng, phải chống xẻng xuống đất mà thở mấy lần. Anh và Phong khiêng Tài tới huyệt, đặt xuống nhẹ nhàng nhất có thể, như sợ làm bạn đau thêm một lần nữa. Đạt đứng bên cạnh, cổ chân còn hằn vết thâm cũ, miệng lẩm bẩm khấn những câu không đầu không cuối. Không có quan tài, không có nhang đèn, chỉ có một nấm đất tạm đắp vội trên một người đàn ông ba mươi chín tuổi. Người mà mấy ngày trước còn cầm lái ghe, còn cười nói, còn tính chuyện lãnh tiền công xong sẽ về trả nợ và sửa lại mái nhà cho vợ con.
Chôn xong, Hùng bắt cả nhóm quay lại lán thu dọn và chuẩn bị đào nốt chuyến cuối cùng như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Chính câu nói bình thản đó của Hùng, theo lời Sang, là giọt nước làm tràn mọi chịu đựng trong anh, và là lý do hai ngày sau anh bước tới quán nước đầu kinh tìm gặp Lượm.
Đêm đó, Sang không về lán ngay. Anh ngồi lại một mình bên nấm mồ tạm của bạn rất lâu sau khi những người khác đã rút đi, nhìn lớp đất mới đắp còn ướt bùn. Trong đầu chỉ có một câu hỏi không lời đáp: một chuyến đào cát, rốt cuộc đáng giá bằng một mạng người chôn vội ở bìa rừng không một nén nhang hay sao.
Rồi chính lúc đó, khi Sang đang ngồi chết lặng bên nấm mồ vừa đắp xong của Tài, anh cảm nhận được một thứ làm toàn thân anh lạnh toát còn hơn cả cái chết vừa chứng kiến: đất dưới chân anh rung lên từng nhịp rất nhẹ. Một nhịp, rồi một nhịp nữa, đều đặn, chậm rãi, như có một con vật khổng lồ đang thong thả đi vòng ở đâu đó ngay dưới lòng đầm trước mặt, trong bóng tối còn chưa tan hết của buổi sớm. Sang ngồi im, không dám đứng dậy, cho tới khi những nhịp rung đó xa dần và mất hẳn vào hướng rừng sâu.
---