HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 28: Trước đêm cuối
Sáng hai mươi hai tháng mười, Phúc lên huyện từ lúc trời còn chưa sáng hẳn. Lượm ngồi ở trạm kiểm lâm chờ anh, cùng với cuốn sổ tay ghi lời Sang để trên…
Nội dung chương
Sáng hai mươi hai tháng mười, Phúc lên huyện từ lúc trời còn chưa sáng hẳn.
Lượm ngồi ở trạm kiểm lâm chờ anh, cùng với cuốn sổ tay ghi lời Sang để trên bàn và một ấm nước chè nguội dần theo từng giờ. Kế hoạch nghe thì đơn giản: xin lệnh bắt khẩn cấp nhóm cát tặc ngay trong đêm đào cuối cùng, bắt quả tang tại hiện trường. Đồng thời bảo vệ toàn bộ khu vực hố bom ở Đất Lính như một hiện trường có hài cốt liệt sĩ để phục vụ việc thu gom sau này. Nhưng giấy tờ ngoài đời không bao giờ đơn giản như lời nói. Lệnh bắt người phải qua nhiều cấp ký. Hiện trường hài cốt phải có sự phối hợp của xã Khánh An, của hạt kiểm lâm, của cơ quan chức năng huyện, mỗi nơi một con dấu, mỗi con dấu một người đi tìm. Phúc chạy đi chạy lại giữa các phòng ban suốt buổi sáng, điện thoại kẹp trên tai không lúc nào ngơi, giọng anh càng về trưa càng khản.
Lượm ngồi chờ mà lòng nóng như lửa đốt. Ông không trách Phúc. Ông đã sống đủ lâu ở đất này để biết thủ tục có cái chậm của thủ tục, và nhiều khi cái chậm đó không phải lỗi của một con người cụ thể nào. Nhưng ông cũng biết một điều khác, điều mà những người ngồi phòng giấy không cảm được: trong rừng, thời gian không chờ ai. Đêm nay, khi máy xáng của Hùng nổ lên giữa lòng hố bom, sẽ không có một con dấu nào ngăn được gầu sắt đó múc xuống đất có người nằm.
- Chậm hơn cháu tính nhiều quá, chú à, Phúc nói khi quay về trạm vào đầu giờ chiều, áo sơ mi thấm mồ hôi, tập hồ sơ trên tay dày thêm một chồng giấy tờ mà nét mặt anh cho thấy vẫn chưa đủ. - Lệnh bắt khẩn cấp phải chờ xác minh thêm lời khai của Tư Ghe và đối chiếu với tin báo mới. Xã thì đồng ý cử người phối hợp, nhưng người của xã phải đợi tới tối mới tập hợp được. Cháu nói thiệt với chú: nếu chờ đủ mọi thứ cho đúng quy trình, đêm nay mình chỉ tới kịp để nhìn hiện trường sau khi tụi nó rút hết.
- Vậy mày tính sao? Lượm hỏi.
Phúc ngồi xuống đối diện ông, rót một ly nước uống cạn một hơi, rồi nói chậm rãi như người đã cân nhắc suốt quãng đường về:
- Tối nay mình làm trong phần việc mình làm được. Tổ kiểm lâm của cháu đi đường vòng ngoài, chốt ở các ngả nước và lối mòn mà nhóm cát tặc có thể rút ra, sẵn sàng giữ người và giữ ghe nếu tụi nó chạy. Còn chú với anh Toàn đi đường nước cũ của thợ săn, áp sát vào gần hố đào như những lần trước, ghi nhận toàn bộ diễn biến đêm nay: giờ giấc, số người, vị trí đào, vị trí đổ hài cốt. Có ghi nhận của nhân chứng và của chính cháu ở vòng ngoài, cộng với lời khai của Tư Ghe và sau này nếu Sang chịu ra làm chứng, hồ sơ sẽ đủ sức nặng. Và một việc quan trọng hơn giấy tờ: nếu đêm nay tụi nó định phi tang thêm hài cốt, chú phải tìm cách ngăn, hoặc ít nhất đánh dấu cho bằng được vị trí mới để sau này mình vớt lại cho đủ.
Lượm gật đầu. Đó là phương án không trọn vẹn, nhưng là phương án duy nhất còn kịp trước khi trời tối. Ông đã quen với những phương án như vậy trong đời đi rừng của mình: khi con nước không chờ, người ta đi bằng con đường còn đi được, chứ không đứng bên bờ chờ một con đường đẹp hơn.
Chiều đó, về tới nhà, Lượm thấy Toàn đã chờ sẵn ở hiên.
Toàn không nói gì nhiều. Anh đã chuẩn bị sẵn ghe máy, đổ đầy dầu, kiểm tra máy hai lần, mang theo đèn pin, dây thừng, dao đi rừng và cả chiếc xuồng nhỏ dự phòng buộc theo sau ghe. Anh mặc sẵn bộ đồ đi rừng, chân đi ủng cao su, đứng nhìn cha với một vẻ bình tĩnh mà Lượm nhận ra ngay: đây không phải vẻ bình tĩnh của người chưa biết sợ. Đây là vẻ bình tĩnh của người đã sợ đủ rồi và đã quyết xong chuyện của mình.
- Đêm nay con đi với ba, Toàn nói. Không phải câu hỏi.
- Tao đã nói chuyện này để tao với anh Phúc lo, Lượm nói, dù trong lòng ông biết trước con trai sẽ không nghe. - Đêm nay không giống mấy đêm phục từ xa. Đêm nay tụi nó đào lần cuối, liều lĩnh nhất, lại thêm con vật đó... Mày ở nhà trông nhà, trông con Trâm.
- Ba, Toàn ngắt lời cha, lần đầu tiên trong nhiều năm anh ngắt lời ông một cách dứt khoát mà không hề hỗn. - Nhà này giữ rừng ba đời, ba vừa kể cho con nghe xong chuyện đó tối hôm kia. Ông nội con được cứu ở đất đó. Cha của ba giữ chiếc nanh mười hai năm. Tới đời con, đêm quyết định ở Đất Lính, ba biểu con ngồi nhà trông nhà, sau này con biết kể lại với con Trâm bằng cách nào? Rằng tới đời ba của nó thì nhà này đứng ngoài à?
Lượm nhìn con trai rất lâu. Ông thấy trong mắt Toàn không có sự bồng bột của tuổi trẻ muốn chứng tỏ, cũng không có ý cãi cha cho bằng được. Ông thấy một người đàn ông bốn mươi tuổi vừa hiểu ra gốc gác của gia đình mình và đang xin được đứng vào đúng vị trí của mình trong cái gốc gác đó. Từ chối một người như vậy, người cha trong ông không nỡ, còn người thợ săn trong ông thì hiểu: đêm nay, thêm một người tin cậy bên cạnh có khi quyết định cả sống chết.
- Đi thì đi, Lượm nói cuối cùng. - Nhưng nghe cho kỹ lời tao dặn, không được cãi một chữ nào trong rừng. Vào tới rìa trảng, tao ra hiệu dừng là dừng, tao biểu tắt đèn là tắt, tao biểu rút là rút ngay, dù đang thấy bất cứ chuyện gì. Đêm nay mình đi để ghi nhận và giữ đất, không phải đi để chết. Nhớ chưa?
- Con nhớ, Toàn đáp.
Hai cha con ăn vội bữa cơm chiều khi trời còn sáng. Con Trâm được gửi sang nhà bà ngoại từ sớm với lý do cha và ông nội có việc phải đi qua đêm, con bé ôm cặp sách đi mà không hỏi gì nhiều, chỉ dặn ông nội nhớ về kể chuyện tiếp. Con Vện suốt buổi chiều hôm đó lạ lắm: nó không quấn chân người như mọi ngày, chỉ nằm ở góc sân hướng mặt về phía rừng. Tai thỉnh thoảng lại vểnh lên nghe ngóng một thứ gì rất xa mà người không nghe được, rồi lại nằm xuống, thở dài thườn thượt như một người già lo lắng.
Nhưng điều làm Lượm chú ý nhất trong suốt ngày hôm đó là chiếc nanh.
Từ sáng sớm, khi ông vừa thức dậy, chiếc nanh trên cổ đã nóng. Không phải cái âm ấm của mấy ngày kể chuyện, cũng không phải cơn nóng ran từng đợt như lần đầu tiên hồi tháng chín. Lần này nó nóng rực, nóng liên tục, nóng không nguội đi một phút nào từ sáng tới chiều, dù ông ở trong nhà, dù ông ra sân, dù ông ngồi ở trạm kiểm lâm cách Đất Lính cả một quãng đường dài. Ông thử tháo nó ra đặt lên bàn một lúc, lòng bàn tay áp vào vẫn thấy hơi nóng tỏa ra từ thân nanh bọc bạc như một hòn than vừa được gắp ra khỏi bếp rồi để nguội dở. Đeo lại vào cổ, vùng da trước ngực ông rát bỏng nhẹ theo từng giờ.
Trong đầu người thợ săn già, chiếc nanh lúc đó giống như một tiếng đếm ngược mà không ai nhìn thấy mặt đồng hồ. Nó đã nóng dần theo từng mốc của câu chuyện này: nóng lần đầu khi máy lạ xuất hiện ngoài rừng, nóng thêm khi hài cốt bị đào lên, nóng rực trong đêm ông bị trói. Và hôm nay, ngày của đêm đào cuối cùng, nó nóng tới mức ông hiểu rằng dù Phúc có xin được lệnh hay không, dù đoàn người có chuẩn bị kịp hay không. Thì phía Đất Lính, một chuyện gì đó rất lớn đang tự mình đi tới điểm cuối của nó, không chờ quyết định của bất kỳ ai.
Chiều tối, hai phía lặng lẽ vào vị trí theo đúng phương án đã bàn.
Tổ kiểm lâm của Phúc tách ra đi đường vòng ngoài từ sớm, ghe tắt máy từ xa, người tản ra các điểm chốt đã định. Ghe của Toàn chở hai cha con theo đường nước cũ, len qua những hàng tràm quen thuộc tới mức Lượm không cần đèn cũng biết chỗ nào sắp tới một khúc cua, chỗ nào đáy kinh nông phải giảm ga. Nước nổi mênh mông hai bên, mặt nước chiều sẫm lại rất nhanh. Khi ghe còn cách rìa Đất Lính một quãng, Toàn tắt máy, hai cha con chuyển sang chèo tay, rồi buộc ghe vào một gốc tràm khuất, lội đoạn cuối vào vị trí quan sát đã dùng trong đêm mười tháng mười.
Trời vừa sập tối hẳn thì từ phía Đất Lính, tiếng máy xáng vang lên.
Nó nổ sớm hơn thường lệ gần một giờ, đúng như lời Sang đã báo trước. Tiếng máy gầm gừ, đều đặn, vọng qua mặt nước và những hàng tràm, kèm theo tiếng gầu sắt múc vào đất nghe nặng và sâu. Lượm ngồi im trong bóng tối bên cạnh con trai, tay đặt lên ngực, cảm nhận chiếc nanh nóng rực dưới lớp áo, mặt hướng về phía tiếng máy. Trong lòng đếm từng nhịp gầu đào như đếm từng nhát cuốc bổ xuống một ngôi mồ chung của hai mươi bảy con người. Phúc và tổ của anh ở vòng ngoài chắc cũng đang nghe rõ tiếng máy đó, và cũng đang chờ, như tất cả mọi người đêm nay.
Tiếng máy xáng chạy được chừng nửa giờ, đều đặn và gấp gáp như một con thú máy đang vội vã ăn cho xong bữa cuối cùng của nó.
Rồi bỗng nhiên, giữa một nhịp gầu chưa dứt, tiếng máy tắt phụt.
Không phải tắt theo kiểu người ta chủ động tắt máy cho ghe nghỉ. Nó tắt như bị một bàn tay khổng lồ bịt chặt lấy, cắt ngang giữa chừng, để lại một khoảng trống âm thanh đột ngột tới mức tai người ù đi. Lượm ngồi bật thẳng dậy trong bóng tối. Toàn nắm chặt lấy tay cha. Xung quanh hai cha con, và xa hơn nữa là cả khu rừng tràm mênh mông quanh Đất Lính, mọi âm thanh cùng lúc biến mất: không tiếng côn trùng, không tiếng cá quẫy, không tiếng chim đêm, không một gợn gió trong tán lá. Chỉ còn lại một sự im lặng tuyệt đối, thứ im lặng mà Lượm đã gặp hai lần trong đời đi rừng của mình, và lần nào gặp nó, ông cũng biết điều gì sắp tới.
Ở phía rìa trảng, trong bóng tối đặc quánh trước mặt hai cha con, mặt đầm phẳng lặng tới mức không một gợn sóng nhỏ nào còn tồn tại trên đời.
---