HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 22: Hầm sập

Câu chuyện ông nội kể lại, Lượm đã nghe đúng hai lần trong đời. Lần đầu là năm một chín bảy lăm, khi ông vừa tròn mười tám tuổi, nghe trong gian nhà lá…

Nội dung chương

Câu chuyện ông nội kể lại, Lượm đã nghe đúng hai lần trong đời.

Lần đầu là năm một chín bảy lăm, khi ông vừa tròn mười tám tuổi, nghe trong gian nhà lá cũ giữa một đêm bom đạn còn chưa dứt hẳn ngoài rừng. Lần sau là nhiều năm sau nữa, khi ông nội đã già, ngồi võng kể lại cho đứa cháu nay đã thành thợ săn, giọng chậm hơn, chi tiết rõ hơn, như người biết mình không còn kể được mấy lần. Hai lần kể khớp nhau từng chỗ một, không thêm không bớt. Đêm nay, bên bàn trà nhà mình, Lượm kể lại cho Toàn và Phúc nghe, giữ nguyên lời ông nội, giữ nguyên cả những chỗ ông nội đã dừng lại rất lâu mới nói tiếp được.

Năm một chín sáu tám, rừng U Minh còn dày hơn bây giờ nhiều.

Kinh rạch chưa bị đào xẻ như sau này, tràm mọc kín tới mức ban ngày đi rừng cũng phải mang đèn. Ông Kỉnh năm đó bốn mươi tuổi, đang ở cái tuổi sung sức nhất của một thợ săn: mắt tinh, tai thính, chân lội bùn cả ngày không biết mỏi. Một buổi sáng cuối mùa mưa, ông vác súng vào rừng kiểm tra mấy cái bẫy đặt từ tuần trước, phần lớn là bẫy thòng và bẫy cáp của dân đặt trăn, đặt heo, thứ nào dính thì gỡ thứ đó về bán lấy gạo nuôi nhà.

Đi tới một khoảng rừng dầu gần lung sâu, ông nghe tiếng cây gãy.

Không phải tiếng gãy bình thường. Nó là tiếng một thân cây bị xô nghiêng từng chút một, rễ trồi lên khỏi đất bùn kêu răng rắc, kèm theo tiếng thở phì phò nặng như kéo bễ và tiếng cáp thép nghiến vào da thịt. Ông Kỉnh nép sau gốc tràm, giương súng lên theo thói quen, rồi từ từ hạ xuống khi nhìn rõ cảnh trước mặt.

Một con heo rừng bị bẫy cáp siết chặt quanh thân, sợi cáp đã lún sâu vào lớp da dày, một đầu cáp buộc vào gốc dầu lớn. Con heo vùng vẫy đã nhiều giờ, có khi nhiều ngày, cây dầu bị nó xô tới nghiêng hẳn một phía, đất quanh gốc trồi lên thành ụ. Nó trọng thương: một bên sườn rách dài, máu khô đen đóng vảy lẫn bùn, một chân trước sưng vù, hơi thở khò khè như ống bễ thủng.

Nhưng thứ làm ông Kỉnh đứng chết trân không phải vết thương.

Là cặp nanh. Không, là sáu chiếc nanh.

Mỗi bên hàm dưới của nó có hai chiếc nanh dài cong vút lên, trắng ngà, lớn chưa từng thấy. Mỗi bên hàm trên lại có một chiếc nanh mọc ngược, đâm thủng qua hàm trồi lên gần mắt, cong như lưỡi liềm. Sáu chiếc nanh trên một con heo. Ông Kỉnh đi rừng từ năm mười mấy tuổi, hạ không biết bao nhiêu heo rừng, con đực già nhất ông từng gặp cũng chỉ có cặp nanh dưới ra hồn. Ông chưa từng thấy, cũng chưa từng nghe ai trong vùng thấy một con heo như vậy, ngoài những câu chuyện truyền miệng mà người ta kể cho con nít sợ chơi.

Thân nó thì khổng lồ. Nằm bẹp dưới đất vì kiệt sức mà lưng nó vẫn cao hơn đầu gối người lớn một khoảng lớn. Ước chừng lúc đứng lên, vai nó phải ngang thắt lưng người. Lớp da trên lưng và hai bên sườn đóng một lớp nhựa tràm, dầu và đất cát dày cộm, cứng như một tấm áo giáp tự nhiên, mốc meo và nứt nẻ theo từng đường như vỏ cây cổ thụ.

Chỉ cần một phát súng.

Ông Kỉnh về sau kể, lúc đó tay ông đã đặt lên cò. Một con heo như vậy, thịt bán được bao nhiêu chưa tính, riêng sáu chiếc nanh kia đem ra chợ thị trấn cũng đủ đổi đời cho cả nhà mấy năm. Thời chiến, gạo thuốc đều khan, nhà ông lại đang lúc túng. Ông nhắm vào sau tai nó, chỗ thợ săn nào cũng biết là điểm yếu nhất của heo rừng. Con heo lúc đó ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào ông. Nó không vùng vẫy nữa. Nó nhìn, hai con mắt đỏ quạch vì đau và kiệt sức, nhìn như một con vật đã biết mình sắp chết và chỉ chờ xem người ta làm gì với nó.

Ông Kỉnh hạ súng xuống.

Về sau ông nói với Lượm một câu mà Lượm nhớ suốt đời: tao hạ súng không phải vì tao nhân từ gì đâu, tao hạ vì tao sợ. Sợ cái nhìn đó. Nó không giống mắt thú. Nó giống mắt một ông già đã sống quá lâu trong rừng này, lâu hơn tất cả người sống quanh đây cộng lại.

Ông tháo bẫy.

Việc đó mất gần buổi sáng. Cáp thép siết chặt, lún vào thịt, phải dùng dao rừng nạy từng chút, có chỗ phải cắt cả mảng da chết. Con heo gầm gừ trong họng nhưng không cắn, không vùng, chỉ nằm im chịu đựng như hiểu người ta đang cứu mình. Gỡ xong cáp, ông Kỉnh hái lá thuốc rừng quanh đó, thứ lá đắng mà dân đi rừng dùng đắp vết thương cho trâu bò, giã nát với muối hột mang theo, đắp lên vết rách bên sườn và chỗ cáp siết. Rồi ông lấy dây rừng băng lại cẩn thận như băng cho một người bạn săn bị thương.

Xong, ông ngồi xuống một gốc cây cách đó mấy bước, châm điếu thuốc, ngồi canh.

Ông canh tới khi mặt trời đứng bóng, canh qua lúc nó thiếp đi rồi tỉnh lại hai lần. Lần tỉnh thứ hai, nó chống chân trước đứng lên được, loạng choạng một lúc rồi đứng vững. Nó quay đầu nhìn ông một lần cuối, rất lâu, rồi lặng lẽ đi vào rừng sâu, tiếng chân nặng nề xa dần giữa những hàng tràm. Từ đó tới cuối đời, ông Kỉnh không bao giờ đặt bẫy, không bao giờ nổ súng trong khu rừng quanh lung sâu đó nữa. Người ngoài hỏi thì ông chỉ nói: đất đó có chủ.

Phúc ghi tới đây thì dừng viết, ngẩng lên:

- Năm một chín sáu tám, ông nội chú bốn mươi tuổi. Rồi sao nữa chú? Tới lần gặp thứ hai thì cách bao nhiêu năm?

- Bảy năm, Lượm nói. - Tháng hai năm một chín bảy lăm. Lần đó, đứa mang ơn phải trả ơn. Mà trả bằng một cái giá mà tới giờ nhà này còn đang đeo trên cổ.

Câu chuyện chuyển sang một thời đoạn khác, tối tăm hơn nhiều.

Tháng hai năm một chín bảy lăm, chiến tranh đã vào hồi cuối nhưng bom đạn ở vùng rừng U Minh vẫn chưa ngớt. Chốt du kích ở trảng đất sau này mang tên Đất Lính đã bị bom vùi từ năm một chín bảy hai, hai mươi bảy người nằm lại dưới hố bom mà không ai vào đào lên được, vì vùng đó bị oanh tạc liên tục. Ông Kỉnh, bốn mươi bảy tuổi, lúc đó vừa là thợ săn vừa là người liên lạc cho lực lượng trong rừng: thuộc từng căn hầm, từng lối mòn, từng ụ đất có thể nấp khi máy bay tới.

Lượm năm đó mười tám tuổi, đã theo ông nội đi rừng được mấy năm, nhưng đêm hôm đó ông ở nhà, còn ông nội vào rừng từ sớm với một gói thư và ít thuốc men cần chuyển gấp. Ở nhà, từ xế chiều, Lượm đã nghe tiếng máy bay gầm xa xa không dứt, nghe cả tiếng bom nổ dội về từ hướng rừng sâu, mặt đất dưới chân rung lên rất khẽ theo từng đợt. Mẹ ông, bà nội của Toàn, đứng ngồi không yên bên cửa. Không ai nói ra, nhưng cả nhà đều biết người của mình đang ở đúng trong vùng trời đó.

Trong rừng, theo lời ông Kỉnh kể lại, trận oanh tạc hôm đó dữ dội nhất trong nhiều tháng.

Bom trút xuống từng loạt, cây tràm gãy đổ như củi, đất than bùn bị xới tung lên trời rồi rơi xuống như mưa đen. Ông Kỉnh chạy từ hố cá nhân này sang căn hầm bí mật gần trảng chốt cũ, đó là căn hầm ông thuộc nhất, nắp hầm ngụy trang bằng một tảng đất phủ lá mục. Ông chui xuống, kéo nắp lại, ngồi trong bóng tối nghe bom nổ rung chuyển cả lòng đất, đất vụn từ vách hầm rơi xuống vai xuống cổ không ngớt.

Rồi một trái bom rơi gần hơn tất cả.

Tiếng nổ không còn là tiếng nổ nữa, nó là một cú đấm khổng lồ giáng thẳng vào lòng đất. Căn hầm rung lên, một thanh gỗ chống nắp gãy đánh rắc, đất từ trên trút xuống như thác. Ông Kỉnh chỉ kịp ôm đầu, nửa người bị đất lấp tới thắt lưng, một chân bị thanh gỗ gãy đè cứng không rút ra được. Nắp hầm sập xuống, bịt kín miệng hầm. Bóng tối đặc quánh phủ lên mọi thứ. Không khí trong hầm mỏng dần, đầy mùi đất mới xới, mùi thuốc bom khét lẹt và mùi máu từ vết thương ở trán ông, nơi một mảnh gỗ sượt qua.

Bom vẫn rơi, nhưng xa dần về phía kinh lớn.

Ông Kỉnh vùng vẫy trong bóng tối suốt nhiều giờ. Ông dùng tay bới đất quanh chân, bới tới rách cả đầu ngón tay, đất lại trượt xuống lấp lại như cũ. Chân bị đè không còn cảm giác, nửa người dưới lạnh dần. Ông gọi, nhưng biết chắc trên mặt đất lúc này không còn ai sống sót ở gần mà nghe được, mà dù có nghe, cũng không ai dám ra khỏi hầm giữa trận bom chưa dứt hẳn. Ông nằm im, nghe tim mình đập, nghe đất đá thỉnh thoảng lại lở xuống rào rào mỗi khi một trái bom xa dội chấn động tới.

Về sau ông kể: nằm dưới đó, tao không sợ chết bằng sợ chết không ai biết. Chết trong hầm sập, vài năm sau người ta chỉ thấy một bộ xương trong lòng đất, như hai mươi bảy người ở trảng kia. Rồi tao nghĩ tới con heo. Tao nghĩ, nếu nó còn sống trong khu rừng này, nếu nó nhớ...

Ông không dám nghĩ tiếp. Hy vọng kiểu đó, với một người thợ săn thực tế như ông, nghe hoang đường tới mức tự ông cũng thấy xấu hổ trong bóng tối.

Đêm xuống dần trên mặt đất phía trên, dù trong hầm chỉ có một màu đen không đổi.

Không biết đã qua bao lâu, có thể hai giờ, có thể bốn giờ, ông Kỉnh thiếp đi rồi tỉnh lại mấy lần vì thiếu không khí và mất máu. Lần tỉnh cuối cùng trong đêm đó, ông bỗng nhận ra một điều làm ông mở choàng mắt trong bóng tối: mặt đất phía trên đang rung lên. Không phải rung vì bom. Bom đã dứt từ lâu. Đây là một nhịp rung khác, đều đặn, nặng nề, đi vòng quanh phía trên miệng hầm sập: một nhịp, dừng, rồi một nhịp nữa, như bước chân của một con vật rất lớn đang đi vòng quanh một điểm mà nó đang đánh hơi.

Trong hầm, Trần Văn Kỉnh nín thở, nghe rõ tiếng thở phì phò khổng lồ ngay trên đầu mình, và tiếng đất phía trên bị bới tung từng mảng lớn.

---

Chương khác

Xem thêm