HEO NĂM MÓNG - Chương 13: Phỏng Vấn Ông Tư Cảnh

Bốn giờ chiều. Nắng Sóc Trăng chếch về phía kênh, đổ một màu cam nhạt lên con đường đất dẫn ra rìa phum. Tôi đạp chiếc Wave cũ của bà, giỏ xe lắc lư một…

Nội dung chương

Bốn giờ chiều. Nắng Sóc Trăng chếch về phía kênh, đổ một màu cam nhạt lên con đường đất dẫn ra rìa phum. Tôi đạp chiếc Wave cũ của bà, giỏ xe lắc lư một chai rượu Phú Lễ và hai gói thuốc Jet. Qua khỏi nhà thằng Lình ba căn, rẽ trái ở cây xoài cụt ngọn, nhà ông Tư Cảnh hiện ra sau bụi chuối xiêm.

Nhà cấp bốn cũ, tường vôi loang lổ từng mảng như bản đồ. Sân trước có gốc me già cành lá rũ xuống mái tôn, mấy con gà tre chạy lẫn đám vịt xiêm đang rỉa lông dưới gốc cây. Bà Bảy, vợ ông Tư, đứng cạnh sào phơi quần áo, tay vuốt ve cái quần bà ba đen còn ướt. Bà ngước lên, nheo mắt nhìn tôi, rồi gật đầu chào - cái gật đầu chậm, như thể bà biết trước tôi sẽ đến.

"Cháu vô đi. Ổng trong nhà."

Tôi dựng xe cạnh lu nước, xách chai rượu bước lên bậc thềm. Mùi trà tàu thoảng ra từ khung cửa mở. Ông Tư ngồi trên bộ ván gỗ giữa nhà, lưng thẳng, áo bà ba bạc màu ngả sang trắng nhờn ở hai vai. Trước mặt ông là cái khay trà đã trắng nước, ấm chén sứ men lam đã sứt một bên quai. Ông không nhìn tôi ngay - mắt ông còn dán vào bức tường đối diện, nơi treo tấm lịch năm 2024 đã ố vàng.

"Con thằng Đực hả." Ông nói, vẫn không quay đầu. "Lớn như vầy. Mấy năm rồi không gặp."

Tôi ngồi xuống chiếu đối diện, đặt chai rượu và thuốc lên góc ván. "Dạ. Cháu về từ hồi bà ngoại mất."

Ông Tư quay lại. Khuôn mặt ông gầy, hai gò má nhô lên dưới lớp da màu đất sét, nhưng đôi mắt còn sắc - cái sắc của người già chưa chịu lẫn. Ông nhìn tôi một lúc lâu, rồi với tay lấy chai rượu, xoay xoay dưới ánh đèn.

"Rượu Phú Lễ. Lâu rồi không uống." Ông đưa chai lên mũi ngửi. "Mày nhớ ba mày thích rượu này hả?"

Tôi gật. Ba tôi với ông Tư từng ngồi với nhau hàng trăm bữa nhậu sau những ngày mổ heo. Cái lò mổ của ba tôi với cái lò mổ của ông Tư cách nhau chưa đầy cây số. Hai người đàn ông cùng nghề, cùng tuổi, cùng xóm - nhưng từ năm 2010, khi ba dẹp lò, ông Tư cũng ít qua nhà.

Ông Tư rót rượu ra hai chén nhỏ, tay run nhẹ. Chất rượu trong vắt, mùi nếp thơm bốc lên len qua mùi trà cũ. Chúng tôi cụng chén. Uống. Im lặng.

Bà Bảy bưng ra đĩa cá khô sặc rằn nướng sơ, chấm nước mắm me. Bà đặt xuống rồi đi ra sau, không nói gì. Tôi nghe tiếng chân bà trên nền gạch, rồi tiếng cửa sau khép nhẹ.

Chén thứ hai.

"Bà ngoại mày mất, tao có qua chùa thắp nhang." Ông Tư nói, giọng chậm. "Bà ấy là người tốt. Tao với bà không thân, nhưng tao kính."

Chén thứ ba. Tôi cảm nhận rượu bắt đầu ấm trong bụng. Ông Tư uống thêm một ngụm, rồi đặt chén xuống, đôi mắt già nheo lại sau làn khói từ điếu thuốc Jet tôi vừa mời.

"Chú Tư." Tôi mở lời. "Cháu đến không phải chỉ thăm. Cháu muốn hỏi chú một chuyện."

Ông Tư không trả lời. Tay ông xoay chén rượu trên mặt ván, chậm rãi, như thể chén rượu đó có gì cần phải nhìn cho kỹ.

"Chú có biết bà ngoại cháu năm 1996 làm gì không?"

Ngón tay ông Tư dừng lại. Chén rượu đứng im trên mặt gỗ. Ông quay đầu nhìn ra sân, nơi bầy gà đang mổ thóc dưới gốc me. Im lặng. Tôi đếm được mười giây, rồi mười lăm. Rồi ông thở ra một hơi dài - cái hơi thở của người vừa quyết định sẽ không nói dối, nhưng cũng không định nói thật.

"Khang." Ông gọi tôi bằng tên, không phải "con thằng Đực". "Con biết tại sao ba con dẹp lò mổ heo năm 2010 không?"

Tôi lắc đầu. Ba tôi chưa bao giờ kể cặn kẽ. Chỉ nói "hết thời", "làm ăn thua lỗ", nhưng tôi không tin. Cái lò mổ đó chạy mười mấy năm không lỗ - tôi biết vì hồi nhỏ tôi từng thấy ba mẹ ngồi đếm tiền, những tờ năm chục ngàn xếp thành chồng trên bàn.

"Vì bà ngoại con bảo dẹp." Ông Tư nói, giọng đều như kể chuyện mùa vụ. "Bà bảo lò đó không lành. Bà nói rồi. Không giải thích thêm. Ba con thì..."

Ông dừng, rít thuốc.

"Ba con không bao giờ cãi bà."

Tôi nhớ. Ba tôi là người ít nói, nhưng mỗi lần nhắc tới bà ngoại, giọng ba trầm hẳn xuống, như thể cái tên "má Sary" mang theo một trọng lượng gì đó không thể nói ra. Hồi nhỏ tôi không để ý. Giờ ngồi đây, trong căn nhà cấp bốn của bạn nghề cũ của ba, tôi bắt đầu ráp lại từng mảnh.

"Vậy năm 96 có chuyện gì, chú?"

Ông Tư đứng dậy. Động tác chậm, lưng còng xuống một chút khi ông bước qua bậu cửa, về phía nhà vệ sinh phía sau. Tôi ngồi lại, nhìn chén rượu của ông còn đầy một nửa. Ngoài sân, bà Bảy đã vào nhà từ lúc nào, đang ngồi ở góc bếp, im re.

Năm phút. Tôi nghe tiếng nước chảy, tiếng ông đằng hắng. Rồi ông quay ra. Mặt ông khác hẳn - không còn cái vẻ thản nhiên ban nãy. Mắt ông đỏ hơn, chẳng phải vì rượu, mà vì một thứ gì giống như nỗi sợ vừa được kìm nén.

"Khang." Ông ngồi xuống, rót thêm rượu, uống cạn một hơi. "Có cái chẳng phải nhà báo viết được. Con hiểu không?"

Tôi không trả lời. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông - cái nhìn của một thằng phóng viên đã ngồi với đủ loại người, từ quan chức tới dân oan, và biết rằng im lặng đôi khi moi được nhiều hơn câu hỏi.

Ông Tư đặt chén xuống, hai tay đan vào nhau trên đầu gối. "Bà ngoại con là người tốt nhất cái phum này. Tao sống ở đây bảy chục năm, tao chưa thấy ai như bà. Hồi đó bà cứu mẹ con - mẹ con hồi đó còn trẻ, mới hai mấy tuổi, vừa khỏi bệnh nặng, sắp cưới ba con. Bà cứu mẹ con. Rồi bà gánh phần còn lại một mình."

Ông dừng. Mắt ông nhìn ra sân lần nữa, nơi nắng chiều đã chuyển sang màu đỏ quạch. "Con đừng đi đào thêm."

"Cháu phải đào, chú." Giọng tôi chắc hơn tôi nghĩ. "Vì cái gì đó vẫn ở đây. Đang nhìn chúng cháu."

Ông Tư sững lại. Bàn tay ông đang nắm chén rượu siết chặt đến mức các khớp ngón trắng bệch ra. "Con thấy gì?"

Tôi kể. Vết móng đỏ trên cửa nhà bà - không lau được, hiện lại sau nửa ngày, đậm hơn lần đầu. Tiếng móng cào trong óc, không nghe bằng tai. Con gà tôi đếm hồi nhỏ - năm móng, cả hai chân. Và những giấc mơ của Hà - em tôi mơ thấy con heo đứng trong nhà bà.

Tôi không kể về đêm qua đứng ngoài lò gạch với Lình, không kể về ánh đèn sáng tới hai giờ sáng. Nhưng tôi kể đủ.

Mặt ông Tư tái đi. Chẳng phải tái vì sợ hãi đơn thuần - mà là cái tái của người vừa nghe xác nhận một điều mình đã nghi ngờ từ lâu, nhưng hy vọng là không đúng.

"Mai." Ông nói, đứng dậy đột ngột. "Mai chú qua nhà bà ngoại con. Chú nói thêm. Giờ con về đi."

Tôi nhìn ông. Ông không nhìn lại tôi. Tay ông với lấy bao thuốc Jet tôi để trên ván, rút một điếu, châm lửa. Ngón tay run lên theo từng nhịp thở.

"Chú hứa nhé." Tôi đứng dậy.

"Ừ. Chú hứa."

Tôi bước ra cửa, dừng lại ở bậc thềm. Ngoài sân, gốc me già đổ bóng dài xuống mấy con vịt xiêm đang ngủ. Tôi quay lại. Ông Tư đã bước ra cổng, đứng đó, tay vịn vào cánh cổng sắt gỉ.

Tôi lên xe, nổ máy. Quay đầu lại vẫy chào.

Cánh cổng đã đóng.

Tôi không nghe tiếng sắt va vào sắt. Chỉ thấy cánh cổng im lìm dưới bóng me, như thể nó đã đóng từ lâu lắm rồi. Nhưng mới ba giây trước ông còn đứng đó.

Tôi chạy xe chầm chậm qua mấy căn nhà. Trời chưa tối hẳn - mới hơn năm giờ, nắng vẫn còn hắt những vệt cuối cùng lên ngọn tre. Nhưng khi tôi ngoái lại nhìn nhà ông Tư lần cuối trước khi rẽ vào đường chính, tôi thấy điều kỳ lạ nhất.

Đèn nhà ông đã tắt.

Không một ánh sáng nào qua khe cửa. Không đèn neon, không đèn dầu, không bóng đèn bàn hắt ra hiên. Cả căn nhà chìm trong một màu xám sớm của hoàng hôn, như thể không có ai sống ở đó.

Tôi giảm ga, toan quay đầu xe lại. Nhưng có một tiếng còi xe phía trước vang lên - Lình, đang chạy chiếc Dream từ phía chợ về. Nó dừng ngang tôi, mắt liếc nhanh về phía nhà ông Tư.

"Sao Khang?"

Tôi kể nhanh. Ông Tư biết. Mai ổng qua kể.

Lình không nói gì ngay. Nó rút bao thuốc rê trong túi áo, châm một điếu, rít một hơi dài. Khói thuốc bay ra hòa vào bụi đường chiều.

"Tao thấy ổng dạo này cũng lạ." Nó nói, giọng khàn. "Hôm thứ bảy ổng mua hai thùng giấy vàng mã ở chợ huyện. Nhiều bất thường. Mà ổng có cúng gì đâu."

Tôi nhớ lại lúc nãy. Lúc ông Tư đứng trong sân, ngay dưới gốc me. Tôi có thấy mấy thùng giấy tiền vàng chất ở góc nhà, dưới mái hiên sau - nhưng lúc đó tôi không nghĩ gì. Giờ Lình nhắc, tôi mới ráp lại. Hai thùng vàng mã. Người ta mua vàng mã để cúng. Ông Tư không có đám giỗ nào sắp tới - bà Bảy vẫn phơi quần áo, không sửa soạn mâm cúng.

"Tao với mày qua đó tối nay?" Lình hỏi.

Tôi lắc đầu. "Mai ổng qua nhà bà. Tao chờ."

Lình ném điếu thuốc xuống đất, dập bằng mũi giày. "Ừ. Mày nói ổng hứa rồi. Nhưng tao nói mày nghe - ông già đó nói lời hứa, mà cũng nói lời từ chối. Hai cái giống nhau lắm."

Nó nổ máy Dream, phóng đi về phía đầu phum. Tôi đạp xe chầm chậm theo sau.

Tôi đạp xe về nhà bà trong nắng cuối chiều. Phía sau, đèn nhà ông Tư đã tắt - một căn nhà tối om giữa xóm mà mọi nhà khác mới bắt đầu lên đèn. Phía trước, đèn nhà bà ngoại đã sáng - Hà đợi tôi, bóng em in trên khung cửa. Giữa hai cái đèn đó, có một con đường đất tôi đang đi, và một câu hứa của một người đàn ông bảy lăm tuổi rằng ông sẽ kể - vào một cái mai mà tôi không chắc có đến.

Gió từ kênh Bãi Xàu thổi vào, mang theo mùi nước lợ và mùi khói đốt đồng. Tôi nhét tay vào túi áo, chạm vào tấm bùa của bà. Nó nóng ran - nóng hơn mọi lần trước. Như thể nó vừa nghe thấy điều gì đó từ căn nhà của ông Tư, và đang cố nói với tôi.

Nhưng tôi không hiểu ngôn ngữ của nó.

Chưa hiểu.

Chương khác

Xem thêm