HEO NĂM MÓNG - Chương 15: Cà Phê Sáu Ráng

9 giờ sáng, Hà gõ cửa phòng tôi bằng hai ngón tay - kiểu gõ nhẹ chỉ hai chị em nhà này biết, từ hồi còn ở Sài Gòn mỗi khi em không muốn ba mẹ nghe thấy.…

Nội dung chương

9 giờ sáng, Hà gõ cửa phòng tôi bằng hai ngón tay - kiểu gõ nhẹ chỉ hai chị em nhà này biết, từ hồi còn ở Sài Gòn mỗi khi em không muốn ba mẹ nghe thấy. Tôi đang ngồi bên bàn gỗ, cuốn sổ phóng viên mở ra trang mới ghi được vài dòng.

"Anh." Giọng Hà qua khe cửa. "Chú Sáu nhắn em. Chú mời anh cà phê quán Hai Nhỏ, mười giờ."

Tôi mở cửa. Hà đứng đó, tay cầm điện thoại, màn hình còn sáng dòng tin nhắn Zalo từ Sáu Ráng: "Cháu ơi, rủ anh Pheap ra quán Hai Nhỏ chú đãi ly nước. 10h." Tôi nhìn dòng "Pheap" - Sáu Ráng chưa bao giờ gọi tôi bằng tên Khmer trước mặt tôi, nhưng hắn biết tên đó. Hắn cố tình nhắn cho Hà, không nhắn thẳng cho tôi.

"Anh đi chứ?"

"Đi." Tôi với cái áo khoác mỏng treo trên móc. "Ổng muốn gặp anh."

Hà nhìn tôi, môi mím lại. Em không nói gì thêm, nhưng tay em vân vê góc điện thoại - thói quen từ nhỏ mỗi khi em lo. "Anh cẩn thận."

Tôi quay lại, nhìn thẳng vào mắt em. Có gì đó trong mắt Hà sáng nay khác - không phải sợ, mà là bồn chồn, như thể em biết điều gì đó tôi chưa biết. "Anh là phóng viên. Cẩn thận là nghề."

Hà gật, rồi quay vào bếp. Tôi nghe tiếng em mở vòi nước, tiếng nồi va vào bồn rửa. Em không nói thêm lời nào.

Tôi rời nhà lúc 9 rưỡi, đi bộ ra quán. Nắng sáng rải trên đường đất từng vệt vàng nhạt, còn pha chút hơi sương từ kênh Bãi Xàu. Mấy con chó trong xóm nằm dài dưới gốc thốt nốt, tai phe phẩy đuổi ruồi. Tôi đi chậm, cố ý để Sáu Ráng chờ.

--- Quán cà phê Hai Nhỏ nằm ở đầu phum, nơi con đường đất mở ra chạm vào tỉnh lộ. Quán là một mái lá thấp, bốn cột cây, nền xi măng cũ nứt vài đường dài. Bàn nhựa đỏ xếp ba dãy, phần lớn trống. Góc trong cùng, bốn ông già ngồi quây quanh bàn cờ tướng, tiếng quân cờ gõ lộc cộc trên mặt gỗ.

Họ không nhìn lên khi tôi bước vào. Sáu Ráng ngồi bàn ngoài cùng, sát mép lá, nơi có nắng hắt xiên qua khe. Ông mặc áo bà ba xám, quần đen, dép lào mòn gót. Trước mặt ông đã có hai ly cà phê, bọt sữa nâu nhạt lấp lánh dưới nắng.

Ông nhìn tôi, cười - nụ cười hiền, cái hiền của người đã quen làm người khác mất cảnh giác.

"Khang. Ngồi đi."

Tôi kéo ghế nhựa đỏ, ngồi đối diện. Ly bạc xỉu được đẩy về phía tôi, ly còn lại đang uống dở nằm trước mặt ông. Tôi nhìn ly bạc xỉu, rồi nhìn ông.

"Cháu uống đen đá."

Sáu Ráng không tỏ vẻ gì khó chịu. Ông ngoắc tay gọi chị chủ quán đang đứng quạt than phía trong. "Cho thêm ly đen đá, em ơi."

Hai phút sau, ly đen đá được bưng ra. Đá trắng nhô lên trên mặt cà phê đen sóng sánh. Sáu Ráng cầm ly đen đá đó lên, uống một ngụm trước. Ông cười - cái cười biết hết mọi ngóc ngách của sự nghi ngờ trong đầu tôi.

"Để cháu yên tâm."

Rồi ông đưa ly đen đá sang phía tôi. Tôi nhận. Đặt xuống, không uống.

Ở góc trong, một ông già hô "chiếu", tiếng quân cờ gõ mạnh xuống bàn. Tiếng cười khàn khàn của mấy ông bạn cờ vang lên như tiếng gỗ mục vỡ.

"Cháu ở phum bao lâu nữa?" Sáu Ráng hỏi, giọng đều đều.

"Tới khi nào lo xong di sản."

"Di sản của bà Sary mà nhiều vậy sao? Hay là di sản gì khác?"

Tôi không đáp. Tôi nhìn ông - mặt ông bình thản, mắt ông hơi híp lại khi cười. Vết chân chim ở đuôi mắt xô lại như rễ cây khô.

"Mẹ cháu có về không?"

"Mẹ không khoẻ."

Sáu Ráng gật nhẹ, như thể ông đã biết trước câu trả lời. Ông với tay lấy ly bạc xỉu của mình, nhấp một ngụm, để lại vệt bọt trắng trên môi trên. Ông lấy mu bàn tay quẹt đi, chầm chậm. "Mẹ cháu lúc nhỏ cũng hay không khoẻ. Năm 96, suýt chết. Cháu biết không?"

Tôi lắc đầu. "Không. Cháu chưa nghe."

Đây là lần đầu tiên có người nhắc đến năm 96 trước mặt tôi một cách công khai - không phải ba tôi trong cơn say, chẳng phải cậu sư trong chánh điện vắng, mà là Sáu Ráng, ngay giữa quán cà phê đông người. Tôi giữ mặt phẳng. Mắt tôi không chớp.

Sáu Ráng nhìn tôi lâu hơn bình thường một nhịp. "Hỏi mẹ đi. Mẹ kể được nhiều hơn chú nghĩ." Ông ngừng, rồi nói thêm, giọng trầm xuống một bậc: "Nếu mẹ chịu kể."

Gió từ kênh Bãi Xàu lùa vào quán, làm rung những tàu lá khô trên mái. Tiếng lá chạm nhau nghe như tiếng thì thầm. Ở góc trong, bàn cờ tướng bắt đầu ván mới, tiếng quân xe lăn trên mặt gỗ.

"Chú có biết về bà ngoại làm gì năm đó không?" Tôi hỏi.

Sáu Ráng cười rộng. Lần đầu tiên trong buổi sáng nay, nụ cười của ông chạm tới mắt - nhưng chẳng phải mắt cười. Đó là ánh mắt của người đã chờ câu hỏi này từ lâu.

"Bà cháu là thầy mo giỏi nhất phum. Bà làm nhiều thứ. Nhưng có thứ bà bỏ dở." Ông nhấp thêm một ngụm bạc xỉu. "Cháu định viết phóng sự về dòng họ mình hả?"

"Cháu chưa quyết. Còn quan sát."

"Quan sát." Sáu Ráng lặp lại từ đó, nhấn vào nó như nhấn vào một vết bầm. "Hồi xưa bà ngoại cháu cũng quan sát. Bà quan sát nhiều quá, rồi bà thấy những thứ bà không nên thấy."

Ông đặt ly cà phê xuống bàn, cạnh ly đen đá của tôi vẫn còn nguyên. Hai ly cà phê đứng cạnh nhau - một uống dở, một chưa đụng tới.

"Khang." Giọng ông đổi - không còn đều đều nữa, mà có một lớp gì đó như tiếng sắt cọ vào đá. "Chú nói thẳng. Chú không thích phóng sự. Chuyện gia tộc qua rồi để qua. Cháu hiểu chứ?"

Tôi gật. Không nói gì.

"Chú thương cháu. Chú thương cả con Hà. Đừng làm chú phải lo."

Ông đứng dậy. Từ túi áo bà ba, ông rút tờ năm mươi ngàn đồng mới, gấp đôi, đặt xuống bàn cạnh hai ly cà phê. Tờ tiền nằm dưới nắng, bóng nước loang từ ly bạc xỉu đổ dài qua mép tiền.

"Chú về." Ông nói, rồi bước ra khỏi quán.

Tôi ngồi đó thêm ba phút. Ly đen đá đã tan gần hết, đá trong ly co lại thành những viên nhỏ nổi lều bều trên mặt nước. Tôi cầm ly lên, uống một ngụm. Cà phê đắng, lạnh. Tờ năm mươi ngàn vẫn nằm trên bàn, một góc ướt.

Ở góc trong, bàn cờ tướng vừa kết thúc ván. Một ông già đứng dậy, vươn vai, cái lưng kêu răng rắc. Ông liếc nhìn tôi, rồi nhìn về phía cổng quán nơi Sáu Ráng vừa khuất. Ông không nói gì, nhưng ánh mắt ông - ánh mắt của một người đã sống ở phum này đủ lâu để biết không nên hỏi gì.

Tôi rời quán lúc mười giờ hai mươi.

--- Về tới nhà, tôi thấy Hà đang ngồi ngoài sân, tay cầm cây chổi cọng dừa quét lá. Cây sao trước cửa vừa trút một lớp lá vàng mỏng, trải thành mảng trên nền đất. Em quét chậm, từng đường chổi dài, lá khô xột xoạt dưới nan chổi. Khi tôi bước qua cổng, em dừng tay, ngước lên.

"Sáu Ráng nói gì với anh?"

"Lời cảnh cáo nhẹ."

Hà đứng thẳng người. Cây chổi trong tay em dừng lại giữa đường quét, vành lá vương trên đầu chổi run nhẹ theo nhịp thở. Em không hỏi cảnh cáo về cái gì. Em hỏi một câu khác.

"Ổng có nói gì về em không?"

Tôi dừng lại. Nhìn em. Trong mắt Hà có một nỗi bồn chồn quá mức cho một câu hỏi bình thường. Chẳng phải bồn chồn của người lo cho anh trai vừa gặp người đáng ngờ - mà là bồn chồn của người đang chờ nghe xem bí mật của mình đã bị lộ chưa.

"Ổng nói thương em." Tôi đáp, giọng chậm. "Sao em hỏi?"

Hà cúi đầu. Cây chổi lại bắt đầu quét, lần này nhanh hơn, những lá khô xô vào nhau kêu sột soạt. "Không. Chỉ hỏi."

Em không nhìn tôi nữa. Cây chổi cọ vào lá khô - tiếng sột rất giống tiếng cào tôi nghe hai đêm qua, chỉ khác là tiếng này có thật. Tôi đứng nhìn lưng em. Cái lưng thẳng, tròn, giống hệt mẹ, nhưng lúc này nó có gì đó rất mong manh - như thể chỉ cần một lời nói sai, em sẽ vỡ ra như những chiếc lá dưới chổi của mình.

Tôi bước vào nhà, để em tiếp tục quét.

Trong nhà, nồi canh chua em nấu từ hôm qua vẫn còn trên bếp, mùi me chín thoảng ra ngọt lẫn chua. Tôi ngồi xuống bàn, mở cuốn sổ phóng viên, viết thêm một dòng: "Sáu Ráng biết tôi đang điều tra. Hắn đe dọa thông qua Hà. Hà đã giấu tôi chuyện gì đó trong lò gạch hôm qua."

Tôi gạch dưới chữ "Hà giấu" hai lần.

Ngoài sân, tiếng chổi vẫn đều đều. Tôi không biết em đã thấy gì trong lò gạch hôm qua, em không kể, và tôi sẽ không hỏi. Nhưng tôi biết Sáu Ráng đã nói gì đó với em khi nắm cổ tay em ở cổng lò gạch - điều gì đó không có trong bất kỳ lời nhắn nào em chuyển cho tôi sáng nay.

Và điều đó khiến tôi sợ hơn bất kỳ lời đe dọa nào Sáu Ráng vừa nói với tôi.

Chương khác

Xem thêm