HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 21: Chôn Người Đầu Tiên

Buổi chiều ngày thứ năm trong núi, ánh nắng không xuống được tới bờ suối Đá Bàn. Sương từ trưa vẫn chưa tan hết, nó nằm là là trên mặt nước, quấn quanh…

Nội dung chương

Buổi chiều ngày thứ năm trong núi, ánh nắng không xuống được tới bờ suối Đá Bàn. Sương từ trưa vẫn chưa tan hết, nó nằm là là trên mặt nước, quấn quanh những tảng đá xám và chui vào cổ áo bốn người còn sống. Út Mẹo quỳ bên xác Tám Râu đã hơn nửa giờ mà hai đầu gối cậu tê dại lúc nào không hay. Máu trên vách đá đã khô thành vệt nâu sẫm. Chiếc cưa máy nằm chỏng chơ cách đó mấy bước, lưỡi cưa còn dính một ít đất và một mảng áo rách của người vừa chết.

Tám Râu nằm ngửa, mắt vẫn mở. Út đã vuốt mắt cho anh hai lần, mí mắt lại từ từ hé ra như chưa chịu tin. Lần thứ ba, Sáu Lì từ chỗ ngồi tựa vào gốc cây lên tiếng, giọng khò khè vì phổi bầm.

- Đừng vuốt nữa, Út. Người mới mất, mắt nó còn muốn nhìn đường về. Lát phủ đá rồi nó tự nhắm.

Út rụt tay lại. Cậu không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cứ chảy xuống cằm, rơi lên mu bàn tay dính đầy bùn suối. Trong đầu cậu chỉ còn quay đi quay lại một ý nghĩ độc nhất: chính cậu là người đề nghị cả nhóm nghỉ lại bên bờ suối này. Lúc đó Sáu Lì thở không ra hơi, mặt tái mét, cậu đã nắm tay áo Đen mà nói:

- Nghỉ một chút đi anh Đen. Anh Sáu không đi nổi nữa đâu.

Đen đã gật đầu. Cả nhóm đã dừng lại ở đúng khúc suối này. Và rồi cái đuôi khổng lồ từ trên tán cây quất xuống, nhanh đến mức không ai kịp la lên một tiếng tử tế. Nếu cậu không mở miệng, nếu cả nhóm cứ đi tiếp thêm một đoạn nữa, biết đâu Tám Râu đã không đứng đúng vào chỗ đó, không ôm cưa máy quay ngược lên bờ cao đúng vào lúc đó.

- Không phải lỗi của mày.

Sáu Lì nói như đọc được ý nghĩ trong đầu Út. Anh nằm nghiêng, một tay ôm chặt lấy sườn phải đã được nẹp bằng hai thanh tre và dây thừng, mỗi hơi thở đều làm mặt anh nhăn lại.

- Nó dồn mình từ hồi tối qua rồi. Nghỉ chỗ này hay đi thêm một khúc nữa cũng vậy thôi. Nó muốn lấy ai, nó lấy người đó trước. Mày đừng có ôm cái chết của nó vào người, ôm không nổi đâu.

Út lắc đầu, không trả lời. Cậu biết Sáu Lì nói để an ủi cậu, nhưng cậu cũng biết một phần trong câu nói đó là thật. Từ đêm lán sập, Ông Mây đã đi vòng quanh thung lũng như đi tuần. Nó biết họ trốn ở hốc đá nào, biết họ đi đường nào, biết ai còn mang súng, ai còn ôm cưa. Nó không vồ bừa. Nó chờ.

Đen đứng cách đó một quãng, khẩu súng hoa cải hai nòng vắt sau lưng, im lặng nhìn xác Tám Râu một lúc lâu. Từ lúc Tám Râu tắt thở tới giờ, Đen chưa nói một câu nào ra hồn. Hắn chỉ đứng đó, hàm bạnh ra, mắt nhìn xuống mặt suối phẳng lặng một cách bất thường. Cuối cùng hắn khạc xuống đất rồi nói, giọng khàn đi:

- Chôn nó ở đây. Xếp đá lên, làm cho tử tế trong sức mình. Mặt trời lặn là phải rời khỏi bờ suối, ở gần nước ban đêm không yên đâu.

Ba Gai ngồi bệt trên một tảng đá, hai tay ôm đầu gối, cái rựa cắm xuống đất bên cạnh. Hắn đã im từ lúc kéo xác Tám Râu ra khỏi vách đá. Lúc này nghe Đen nói, hắn ngẩng lên, mắt đỏ hoe vì rượu và vì thiếu ngủ mấy đêm liền.

- Chôn vội vậy sao anh Đen. Nó theo mình lên núi, giờ nằm lại một mình ở xó này.

- Mày muốn cõng nó xuống núi hả Ba Gai.

Đen hỏi lại, không lớn tiếng nhưng lạnh. Ba Gai cúi đầu, không đáp. Không ai trong bốn người còn đủ sức cõng một cái xác qua những đoạn cây đổ và vệt trườn chắn đường. Đến người sống là Sáu Lì còn phải có người dìu từng bước.

Họ bắt đầu xếp đá. Đá ở bờ suối nhiều, tảng nhỏ tảng lớn nằm lẫn trong sình và rêu trơn. Út lội xuống mép nước khuân từng tảng lên, tay trầy xước vì cạnh đá sắc, nước suối lạnh buốt ngấm qua ống quần. Đen và Ba Gai đỡ xác Tám Râu đặt lên một khoảnh đất cao ráo hơn, lót dưới bằng lá rừng khô. Ba Gai cởi chiếc áo ngoài của mình phủ lên mặt Tám Râu trước khi đá phủ lên, coi như một tấm vải liệm. Đó là việc tử tế nhất hắn làm được trong ngày hôm đó, và Út thấy tay hắn run khi kéo vạt áo cho thẳng.

Sáu Lì không khuân đá được. Anh ngồi tựa gốc cây, chỉ cho Út cách xếp đá sao cho gò không sụp khi mưa xuống: tảng lớn nằm dưới làm chân, tảng nhỏ chèn vào khe, trên cùng đặt một tảng phẳng như nắp. Út làm theo, từng lớp đá phủ dần lên người bạn đường. Đến lớp cuối cùng, cậu chừa lại một khoảng trống nhỏ rồi nhìn Đen.

- Có cần nói gì không anh.

Đen im lặng một lúc. Rồi hắn lắc đầu.

- Nói gì bây giờ. Nó nghe cũng không được nữa.

Út thầm khấn trong lòng cho Tám Râu. Cậu nhớ lúc mới lên núi, anh là người hay cười nhất nhóm, đeo ba lá bùa trên cổ mà khoe bùa linh lắm, qua chuyến này về sẽ cưới vợ ở An Phú, nghỉ nghề rừng. Ba lá bùa đã cháy đen từ chiều hôm qua, mà không lá nào cứu được anh.

Xong gò đá, Đen lấy chiếc cưa máy dựng đứng ở đầu gò, lưỡi cưa cắm xuống đất, tay cầm chĩa lên trời. Không có bia, không có tên, chỉ có chiếc cưa máy làm dấu. Ai sau này đi qua bờ suối Đá Bàn nhìn thấy cũng sẽ biết có người nằm lại ở đây vì nghề rừng.

- Vậy là xong một người.

Ba Gai nói khẽ, không nhìn ai.

Út ngồi phịch xuống đất bên gò đá, toàn thân rã rời. Ý định bỏ về một mình trỗi lên trong đầu cậu rất rõ ràng lúc đó. Đường xuống núi tuy bị cây đổ chắn ở đoạn suối, nhưng một mình cậu nhẹ người, không súng, không trầm, có khi luồn qua được. Cậu còn mẹ ở chợ Núi Sập đang chờ. Cậu mới mười chín tuổi. Cậu không muốn nằm lại thành gò đá thứ hai bên bờ suối này.

Nhưng rồi cậu nhìn sang Sáu Lì. Anh đang cố tự ngồi thẳng lên mà không được, mồ hôi rịn trên trán dù trời mát lạnh, mỗi lần đổi tư thế là một lần nghiến răng. Sáu Lì không có ai khác trong nhóm này sẽ dìu anh nếu Út bỏ đi. Đen thì chỉ nghĩ tới cây trầm. Ba Gai thì chỉ nghĩ tới đường thoát cho riêng mình. Út mà xuống núi một mình, Sáu Lì sẽ nằm lại trên dốc đá nào đó, và cậu sẽ phải sống cả đời với điều đó.

Cậu nuốt ý định bỏ về xuống, nuốt khan như nuốt một ngụm nước đắng.

- Anh Sáu, anh vừa nói tiếng chuông hồi trưa là sao.

Út hỏi, một phần để kéo mình ra khỏi ý nghĩ vừa rồi. Sáu Lì ngước mắt nhìn về phía đỉnh núi, nơi sương đang cuộn dày trên những mỏm đá cao. Tiếng chuông đồng lúc trưa, ngay sau khi Tám Râu tắt thở, cả nhóm đều nghe thấy mà không ai nhắc tới, như sợ nhắc tới thì nó sẽ không còn là thật nữa.

- Trên đỉnh núi này có một ông đạo.

Sáu Lì nói chậm, ngắt quãng để thở.

- Dân An Hảo gọi là Ông Đạo Năm, người ta cũng kêu Năm Tịnh. Ông ở trên đó mấy chục năm rồi, giữ núi này. Cha tao hồi còn sống nói, hồi xưa ông cũng là thợ săn như mình, đi một chuyến vào thung lũng này rồi không xuống nữa. Ai lên núi Cấm mà nghe tiếng chuông của ông thì coi như núi còn để cho một đường sống. Nếu còn ai cứu được mình lúc này, chỉ có ông thôi.

Đen hừ một tiếng trong mũi.

- Ông đạo nào trên núi này. Kiểm lâm đi tuần hoài có thấy ai đâu.

- Anh làm kiểm lâm bị đuổi mấy năm rồi, anh Đen.

Sáu Lì đáp, lần đầu trong ngày giọng anh cứng lại.

- Mà hồi anh còn làm, anh có dám vô thung lũng này không. Ông ở chỗ người thường không tới. Tin hay không tùy anh, nhưng mình hết đường rồi. Xuống cũng bị chặn, ở lại đây thì đêm nay nó quay lại. Lên phía chuông là đường duy nhất còn chưa thử.

Đen không trả lời ngay. Hắn nhìn gò đá mới đắp, nhìn khẩu súng trên lưng, rồi nhìn lên phía đỉnh núi mù sương. Út biết Đen đang cân nhắc theo cách của hắn: không phải tin hay không tin chuyện ông đạo, mà là còn lựa chọn nào khác hay không. Câu trả lời là không còn. Cuối cùng Đen gật đầu một cái rất nhẹ.

- Đi. Khiêng Sáu lên võng. Tao với Ba Gai thay nhau đi hai đầu, Út đi giữa đỡ. Lên được tới đâu hay tới đó trước khi trời tối hẳn.

Họ buộc lại chiếc võng dù bằng hai cành cây tươi làm đòn khiêng. Đặt Sáu Lì lên võng là cả một việc khó: anh nghiến răng đến trắng mặt khi Đen và Út luồn tay dưới lưng anh nhấc lên, mồ hôi túa ra ướt cả áo. Vậy mà anh không kêu một tiếng, chỉ nói một câu gọn:

- Đi đi, đừng để ý tao la. La là còn sống.

Đường lên mỏm đá dốc ngay từ bờ suối. Đất ẩm trơn, đá phủ rêu, võng khiêng nặng trĩu làm vai Út đau nhói từng bước. Ba Gai đi đầu, thỉnh thoảng lại ngoái nhìn xuống thung lũng phía dưới như sợ có thứ gì đang bám theo. Đen đi cuối, tay lúc nào cũng đặt gần khẩu súng.

Leo được nửa dốc, khi cả nhóm dừng lại bên một tảng đá lớn để thở, một làn khói mỏng bay ngang qua trước mặt Út. Không phải sương. Sương không có mùi. Làn khói này mang theo mùi trầm hương thoang thoảng, mùi của nhang đang cháy ở một nơi rất gần mà cũng rất lạ, vì trên sườn núi này làm gì có nhà dân hay miếu mạo nào. Khói bay ngang thung lũng theo một vệt dài, mỏng và đều, như có người vừa thắp nhang ở phía trên cao rồi gió đưa xuống.

Ba Gai ngửi thấy, mặt hắn biến sắc.

- Mùi nhang. Ai thắp nhang trên này giờ này.

- Ông đạo đó.

Sáu Lì nằm trên võng nói, mắt nhắm lại vì mệt nhưng miệng hơi mỉm cười.

- Tao nói rồi mà. Ông biết mình đang lên.

Út không nói gì. Cậu hít mùi trầm hương lẫn trong mùi đất ẩm và mùi lá mục, tự nhiên thấy sống mũi cay. Không phải vì yên tâm. Là vì lần đầu tiên sau hai ngày bị săn, trên ngọn núi này có một dấu hiệu không phải của con vật khổng lồ kia, mà là của một con người đang chờ họ.

Cậu quay đầu nhìn lại thung lũng phía dưới một lần cuối trước khi đi tiếp. Cội trầm đứng im trong sương chiều, tán lá rộng che gần hết khoảng đất quanh miệng hang. Và trên tán cây cao nhất của nó, Út nhìn thấy một vệt xám bạc dài nằm yên bất động, vảy mốc hoa tiêu lẫn vào màu sương xám đến mức suýt nữa cậu tưởng là một cành cây khô.

Vệt xám bạc đó không động đậy. Nhưng Út biết nó đang nhìn theo họ, từng người một, leo dần lên phía mỏm đá gần đỉnh núi.

Chương khác

Xem thêm