HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 26: Năm Tịnh Xuất Hiện
Mưa nặng hạt được chừng một khắc thì ngớt dần, để lại mỏm đá trong một màn hơi nước mỏng bốc lên từ mặt đá nóng ban ngày gặp lạnh ban đêm. Cả nhóm trong…
Nội dung chương
Mưa nặng hạt được chừng một khắc thì ngớt dần, để lại mỏm đá trong một màn hơi nước mỏng bốc lên từ mặt đá nóng ban ngày gặp lạnh ban đêm. Cả nhóm trong am vẫn thức, không ai nói với ai câu nào từ sau lời kể của Sáu Lì. Út Mẹo ngồi bó gối cạnh chõng, đầu óc cậu quay cuồng với hình ảnh cha mình đứng trước cội trầm mười lăm năm về trước, một hình ảnh cậu chưa từng được thấy mà giờ đây cứ hiện lên rõ như thật.
Rồi từ trên mỏm đá cao phía sau am, tiếng chuông đồng gõ xuống ba tiếng.
Ba tiếng chuông chậm, rõ, cách nhau đều đặn, khác hẳn tiếng chuông dẫn đường lúc chiều và tiếng chuông rung khẽ lúc bữa cơm. Ba tiếng này như một lời gọi chính thức. Cả nhóm giật mình ngẩng lên. Sáu Lì mở mắt ra ngay, cố chống tay ngồi dậy mà không được, đành nằm yên, mắt nhìn ra cửa với một vẻ kính cẩn lạ hẳn, khác hẳn Sáu Lì thường ngày.
Đen đứng bật dậy, tay chụp lấy khẩu súng theo phản xạ. Út nắm lấy tay áo hắn giữ lại.
- Đừng anh Đen. Người ta gọi mình ra đó.
Đen nhìn cậu một giây, rồi từ từ đặt khẩu súng xuống cạnh bếp, nhưng tay hắn vẫn nắm cây dao rựa dắt vào thắt lưng khi bước ra cửa. Ba Gai lồm cồm ngồi dậy ở góc am, hai tay ôm chặt ba lô vào ngực, mặt hắn trong ánh lửa bếp trông còn mệt hơn cả người bị thương.
Cả nhóm bước ra sân đá. Mưa đã tạnh hẳn. Trời trên đỉnh núi quang ra một cách kỳ lạ sau cơn mưa ngắn, mây rách từng mảng lớn, và trong ánh sáng lờ mờ của một đêm chưa có trăng, Út nhìn thấy ông lần đầu tiên.
Ông đứng trên mỏm đá cao hơn sân chừng ba thước, ở đúng chỗ mà từ đó có thể nhìn xuống toàn bộ khoảng sân và con đường dốc họ vừa leo lên lúc chiều. Một ông già gầy, cao dong dỏng, lưng hơi còng nhưng đứng thẳng và vững trên mặt đá ướt như một gốc cây khô đã mọc ở đó từ rất lâu. Ông khoảng gần tám mươi tuổi, tóc bạc cắt ngắn, râu thưa bạc trắng dưới cằm. Quanh cổ ông quấn một chiếc khăn rằn đã bạc màu. Tay phải ông cầm cây gậy tầm vông dài, đầu gậy bịt khâu đồng đỏ ánh lên mờ mờ trong bóng tối, chính là cây gậy Út đã thấy dựng trên vách am. Tay trái ông cầm chiếc chuông đồng nhỏ.
Ông không nói gì ngay. Ông chỉ đứng đó nhìn xuống từng người một, rất chậm, như đang đếm.
Ánh mắt ông đi qua Đen đầu tiên, dừng lại ở bàn tay đang nắm dao rựa của hắn một nhịp, rồi đi tiếp. Nó dừng trên chiếc võng và người nằm trên chõng mà họ vừa khiêng ra đặt ở cửa am là Sáu Lì, ông gật đầu rất nhẹ, như thể thương tích của Sáu Lì không làm ông ngạc nhiên một chút nào. Như thể ông đã biết trước có một người gãy sườn sẽ được khiêng lên tới đây. Rồi ánh mắt ông đi qua Ba Gai đang ôm ba lô, lướt xuống góc ba lô sát chân Đen, nơi túi trầm buộc chặt, một cái nhìn thoáng qua mà sắc như dao, và cuối cùng dừng lại ở Út.
Ông nhìn Út rất lâu.
Lâu đến mức Út phải cúi mặt xuống vì không chịu nổi. Đó không phải ánh mắt của người lạ nhìn người lạ. Đó là ánh mắt của một người đang nhìn thấy một khuôn mặt quen thuộc hiện về sau rất nhiều năm, trên một con người khác. Khi Út ngẩng lên lần nữa, ông vẫn chưa rời mắt.
- Con là con của Trần Văn Hậu, phải không.
Ông cất tiếng. Giọng ông khàn và chậm, âm thanh không lớn nhưng rõ từng chữ trên sân đá yên tĩnh, mang theo cái mệt của một người đã sống quá lâu một mình trên đỉnh núi.
Út chết sững. Hai đầu gối cậu như bị rút hết sức. Cậu nghe tiếng tim mình đập rõ trong tai, nghe cả tiếng Ba Gai phía sau khẽ thốt lên một câu gì đó mà cậu không phân biệt được. Mười lăm năm, kể từ ngày cha cậu vào núi rồi không trở về, chưa một người lạ nào gọi đúng tên cha cậu ra trước mặt cậu như vậy, bằng một giọng chắc chắn như vậy. Gia đình cậu chỉ biết cha mất tích. Không xác, không tin tức, không một lời giải thích tử tế nào từ bất cứ ai trong mười lăm năm.
- Dạ.
Út đáp, giọng cậu vỡ ra.
- Dạ, con là con của Trần Văn Hậu. Ông biết cha con hả ông. Cha con hồi đó.
- Ta biết.
Ông ngắt lời cậu, không nặng nề, chỉ như người không muốn đào sâu vào chuyện cũ ngay giữa sân, trước mặt những người không liên quan.
- Chuyện của cha con, để sau. Đêm nay chưa phải lúc kể hết. Ta hỏi để biết chắc tụi bây là đoàn nào thôi.
Ông chống gậy bước xuống sân, từng bước chậm và chắc trên mặt đá trơn. Tới gần, Út mới thấy rõ hơn khuôn mặt ông: gầy, xương, đầy những nếp nhăn sâu của nắng gió núi rừng, nhưng đôi mắt thì sáng và tỉnh một cách lạ thường so với tuổi tác. Ông đi qua trước mặt từng người như đi qua một hàng người chờ phán quyết, rồi dừng lại giữa sân, quay về phía cả nhóm.
- Thung lũng đã lấy một người của tụi bây rồi.
Ông nói.
- Tao nghe tiếng cưa máy im bặt từ trưa. Núi lấy người thì cả núi biết. Nhưng một người chưa đủ đâu. Núi chưa lấy đủ, vì tụi bây vẫn còn mang của nó trên người, và kẻ ra lệnh cho chuyến đi này vẫn chưa chịu cúi đầu.
Không khí trên sân đặc lại. Đen bước lên một bước, bỏ qua mọi phép tắc chào hỏi mà hắn đã bỏ qua từ đầu buổi tối.
- Ông Năm, tôi là Đen. Tôi cần đường xuống núi cho người của tôi, có người bị thương nặng. Ông ở trên này mấy chục năm, ông chỉ đường cho tụi tôi, xuống tới nơi tôi hậu tạ đàng hoàng. Còn chuyện núi lấy ai, ông đừng hù tụi tôi nữa. Tụi tôi thấy đủ rồi.
Ông đạo nhìn Đen một lúc lâu, ánh mắt không giận mà buồn, cái buồn của người đã nghe câu nói y hệt như vậy từ rất nhiều kẻ khác trong mấy chục năm qua, và biết kết cục của hầu hết những kẻ đó.
- Đường xuống núi còn nguyên.
Ông nói chậm rãi, từng chữ một.
- Đường không mất đi đâu hết. Tao ở trên này, tao đi lên đi xuống đường đó mấy chục năm nay. Nhưng tụi bây không đi được nữa. Không phải vì đường bị chặn. Mà vì tụi bây đang mang của núi trên người.
Nói tới đó, mắt ông rời khỏi mặt Đen, nhìn thẳng xuống chiếc ba lô đặt sát chân hắn, nơi túi trầm vụn đang buộc chặt ở góc ba lô. Cái nhìn đó không cần thêm một lời giải thích nào. Đen vô thức đưa tay che lên túi trầm, một cử động thừa và lộ liễu đến mức chính hắn cũng nhận ra ngay sau đó, mặt hắn sượng lại.
Ông đạo không nói thêm với Đen nữa. Ông chống gậy đi tới cửa am, quỳ một gối xuống bên chõng của Sáu Lì, đưa bàn tay gầy guộc sờ nhẹ lên lớp vải nẹp trên sườn anh, rồi áp tai nghe hơi thở của anh một lúc. Sáu Lì mở mắt nhìn ông, cố gượng cười:
- Con chào ông Năm. Con là Sáu Lì, dân Châu Đốc. Cha con hồi xưa có nhắc tới ông.
- Cha mày người Châu Đốc, đi ghe dưới sông Hậu.
Ông nói ngay, không cần suy nghĩ.
- Ông già mày một lần chở tao qua sông năm núi lụt, không lấy tiền. Tao nhớ. Mày giống ổng, cái mặt lì từ nhỏ.
Sáu Lì sững người rồi cười khẽ, cái cười làm anh nhăn mặt vì đau nhưng mắt anh ươn ướt. Út đứng sau lưng ông đạo, nghe cuộc đối đáp ngắn ngủi đó mà thấy sống lưng mình lạnh thêm. Người đàn ông này không chỉ biết cha cậu. Ông biết cả cha của Sáu Lì, biết những chuyện từ mấy chục năm trước ở tận dưới đồng bằng, trong khi ông sống một mình trên đỉnh núi này suốt bốn mươi năm. Như thể núi giữ ông ở lại, còn ông thì giữ trong đầu mình sổ sách của tất cả những ai đã từng bén mảng tới vùng này.
Ông đứng dậy, quay sang Út, giọng trầm xuống:
- Người bị thương này phải nằm yên, không được khiêng đi đâu nữa trong đêm nay. Sườn gãy hai cái, phổi đã bầm, đi nữa là máu tràn vào phổi, không cứu được. Đêm nay tụi bây ngủ lại am này. Mưa lớn sắp tới, bão đang vòng ngoài kia, trời sáng cũng chưa đi đâu được. Có gì, để ta tính cùng tụi bây khi trời sáng.
- Còn thằng đó thì sao ông.
Ba Gai bỗng lên tiếng từ phía sau, giọng hắn run run chỉ về phía thung lũng.
- Người của tụi con chết hồi trưa, chôn ngoài bờ suối rồi. Ông có biết không. Nó chết thiệt rồi đó ông. Ông ở trên này, ông nghe hết mà ông không xuống cứu.
Ông đạo quay lại nhìn Ba Gai. Cái nhìn của ông làm Ba Gai nín bặt giữa chừng, hai tay ôm ba lô siết chặt hơn.
- Ta nghe.
Ông đáp, giọng đều đều.
- Ta nghe tiếng nó la, ta nghe tiếng chuông của ta gõ cho nó. Nhưng ta không phải là người quyết ai sống ai chết trên núi này. Ta chỉ giữ núi, giữ lệ. Kẻ nào phá lệ, núi xử theo lệ của núi. Ta xuống cũng không đổi được gì, vì lúc đó tụi bây còn chưa chịu nghe một lời nào hết. Giờ tụi bây leo lên tới đây, chịu ngồi ăn cơm của ta, chịu nghe chuông của ta, thì ta mới nói chuyện được với tụi bây. Hiểu không.
Ba Gai cúi đầu, không trả lời. Bờ vai hắn run lên từng chập, không rõ vì lạnh, vì sợ, hay vì một cơn giận đang nén lại không có chỗ thoát ra.
Cả sân đá im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái am xuống nền đá, và từ rất xa phía dưới thung lũng, một lượt đọt cây rạp xuống rào rào trong đêm lặng gió, như một lời xác nhận không cần dịch ra tiếng người.
Út đứng yên giữa sân, mưa lạnh thấm qua vai áo, trong lòng chỉ còn một ý nghĩ duy nhất lặp đi lặp lại: người đàn ông này biết hết. Biết họ là ai, biết họ mang theo cái gì, biết cả cha cậu là ai. Và nếu ông đã biết hết mà vẫn nói họ không xuống núi được, thì có lẽ thật sự là họ không xuống được, chừng nào cái túi nhỏ bé bên hông Đen còn ở đó.