HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 31: Bốn Mươi Năm Trước

Sau câu trả lời dành cho Đen, Năm Tịnh không nói thêm gì một lúc lâu. Ông ngồi xuống bên bếp lửa nhỏ giữa am, lưng dựa vào vách lá, cây gậy tầm vông dựng…

Nội dung chương

Sau câu trả lời dành cho Đen, Năm Tịnh không nói thêm gì một lúc lâu. Ông ngồi xuống bên bếp lửa nhỏ giữa am, lưng dựa vào vách lá, cây gậy tầm vông dựng ngay tầm tay. Ngoài kia bão chưa tới hẳn mà gió đã giật từng cơn qua mỏm đá, làm mái tranh kêu phần phật và chiếc chuông đồng ngoài hiên thỉnh thoảng ngân lên một tiếng ngắn, lạc lõng.

Sáu Lì nằm trên chõng, hơi thở khò khè vì hai xương sườn gãy bên phải. Mỗi lần hắn trở mình, Út Mẹo lại phải đỡ vai hắn nằm yên. Thuốc đắp đã làm cơn đau dịu bớt, nhưng trán hắn vẫn rịn mồ hôi và cơn sốt như đang chờ lúc mưa nặng hạt hơn để trỗi dậy. Đen ngồi ở góc tối nhất của am, khẩu súng hoa cải dựng giữa hai đầu gối, mắt nhìn ra cửa như vẫn còn tính đường xuống núi.

Út ôm gối ngồi gần bếp. Cậu còn nghe văng vẳng tiếng chuông lúc nãy, và còn nhớ câu nói của ông đạo: đêm nay, nó sẽ lên tới đây.

- Ông Năm - Út khẽ gọi - Ông nói ông giữ núi này bốn mươi năm. Vậy hồi đó, ông lên đây bằng cách nào?

Năm Tịnh ngẩng lên. Đôi mắt già dưới ánh lửa không hề đục như mắt người gần đất xa trời. Ông nhìn Út một lượt, rồi nhìn sang Đen, rồi nhìn Sáu Lì đang nằm, như đang đếm lại những người có mặt trong am để quyết định có nên kể hay không.

- Tao kể - ông nói - Không phải để hù. Tao kể để thằng nhỏ này biết, núi này không phải chỗ ai muốn tới thì tới, muốn lấy gì thì lấy. Còn nghe hay không, là việc của tụi bây.

Ông đưa bàn tay gầy lên, lần tràng hạt một vòng rồi mới bắt đầu.

- Năm 1984, tao ba mươi tám tuổi.

Giọng ông đều đều, không lên xuống, như người đang đọc lại một trang sổ cũ đã thuộc lòng.

- Hồi đó tao là thợ săn. Súng tốt, mắt tốt, gan cũng lớn. Ở Tri Tôn ai cần người dẫn vào rừng sâu, người ta tìm tao. Mùa mưa năm đó, có một đoàn bảy người rủ nhau vào Thung Lũng Cấm. Sáu người kia, có người săn thú, có người tìm trầm, có người chỉ đi theo vì nghe nói trong thung lũng có của trời cho, vào một chuyến là đủ sống cả đời. Tao là người thứ bảy, cầm súng đi đầu.

Út nuốt khan. Cái cách ông nói giống hệt cách Hai Tràm từng kể về những đoàn người vào núi ngày xưa: lúc đi thì đông, lúc về thì thưa dần, rồi mất hẳn.

- Tụi tao vào được tới miệng hang - Năm Tịnh nói tiếp - Hồi đó miệng hang chưa bị đào bới như bây giờ. Phiến đá còn nằm yên. Gốc trầm còn nguyên, chưa có vết cưa nào ăn vào thân như mấy chục năm sau tụi bây làm. Đoàn trưởng hồi đó cũng tham y như... - Ông dừng lại, không nhìn Đen - Cũng tham. Ổng biểu phá phiến đá, biểu đào quanh gốc, biểu ở lại qua đêm trong thung lũng cho kịp việc.

- Rồi sao nữa, ông? - Út hỏi.

- Rồi núi nổi giận.

Hai chữ cuối ông nói chậm. Ngoài am, gió quật một cơn mạnh, một tấm lá trên mái bị tốc lên rồi đập xuống sột soạt.

- Đêm đó mưa không lớn như đêm nay sắp tới. Nhưng nước ở đâu trên cao đổ xuống thung lũng như có người tháo cống. Lũ quét qua trong lúc tụi tao đang ngủ. Lán trôi. Đồ trôi. Người cũng trôi. Kẻ bám được vào rễ cây thì sống thêm được một lúc. Kẻ không bám được thì mất tiếng la chỉ sau một con nước.

Ông im lặng. Út nghe rõ tiếng lửa lách tách và tiếng Sáu Lì thở nặng.

- Nhưng lũ không phải thứ lấy mạng hết sáu người kia - Năm Tịnh nói - Có hai người chết vì nước. Còn lại, chết vì không chịu lui khi đã nghe đọt cây rạp.

Út ngẩng phắt lên.

- Đọt cây rạp rào rào giữa đêm, dù mưa không đủ làm cây rung như vậy. Người già trong đoàn la lên, biểu bỏ hết đồ mà chạy. Nhưng đoàn trưởng không chịu. Ổng nói của đã tới tay, bỏ là mất trắng. Ổng nổ súng.

Trong am, Đen khẽ động đậy. Khẩu súng giữa hai đầu gối hắn kêu một tiếng cụp rất nhỏ khi hắn đổi tay cầm.

- Súng nổ thì sao? - Út hỏi, dù trong lòng cậu đã lờ mờ biết đáp án từ chiều hôm đó, khi Đen nổ phát súng đầu tiên vào Ông Mây và đạn chỉ tóe lửa rồi văng ra khỏi lớp vảy xám bạc.

- Đạn không làm gì được Ông - Năm Tịnh đáp - Nó chỉ làm Ông biết rõ mặt kẻ đang chọc giận mình. Đêm đó, tao thấy đòn đuôi lần đầu tiên trong đời. Không thấy thân, chỉ thấy bóng đen quất ngang qua màn mưa, cây gãy, đá lăn, người văng đi không kịp la hết một tiếng. Rồi tiếng thứ hai. Rồi tiếng thứ ba. Tới khi trời hửng mờ, trong thung lũng chỉ còn tiếng nước chảy và tiếng tao thở.

- Còn một mình ông sống? - Út hỏi nhỏ.

- Còn một mình tao - ông gật đầu - Nhưng không phải vì tao chạy nhanh, cũng không phải vì tao bắn giỏi. Tao sống vì tới lúc cái đầu của Ông hạ xuống trước mặt, tao buông súng.

Ông kể tới đó thì đưa tay chỉ lên vách am. Lúc mới vào am chiều nay, Út đã thấy cây gậy, thấy chiếc vảy lớn treo trên vách, thấy chuông đồng ngoài hiên. Nhưng trong bóng tối và cơn mệt, cậu chưa để ý ở góc vách bên trái, cao hơn đầu người, có một khẩu súng săn cũ treo bằng dây mây. Nòng súng đã gỉ thành màu nâu đỏ, báng gỗ nứt dọc, dây đeo mục gần đứt.

- Súng của tao đó - Năm Tịnh nói.

Út nhìn khẩu súng gỉ, rồi nhìn lại ông.

- Lúc Ông hạ đầu xuống, hai con mắt đỏ rực ở ngay trên đầu tao, gần tới mức tao thấy hơi thở lạnh phả vào mặt. Tao không nghĩ được gì nữa. Tay tao tự buông súng ra. Tao quỳ xuống đất bùn, cúi đầu, và gọi đúng một tiếng như bà ngoại tao vẫn dặn hồi tao còn nhỏ, mỗi lần đi ngang rừng thiêng.

- Ông gọi là... - Út thì thầm.

- Ông - Năm Tịnh nói - Tao gọi: Ông. Chỉ một tiếng đó thôi. Rồi tao nằm yên, chịu chết. Tao nghĩ mình đã hết số. Nhưng Ông nhìn tao rất lâu. Lâu tới mức mưa chảy thành dòng trên lưng tao mà tao không dám nhúc nhích. Rồi Ông lướt qua. Đọt cây rạp xuống một lượt dài, hướng về phía hang. Sáng ra, tao bò ra khỏi thung lũng một mình, chôn được ai thì chôn, đánh dấu được chỗ nào thì đánh dấu. Sáu người kia không ai trở xuống nữa.

Am tranh im lặng rất lâu sau câu chuyện. Đen là người lên tiếng trước, giọng khàn và có chút cười nhạt:

- Rồi ông ở luôn trên này vì sợ?

- Không - Năm Tịnh đáp ngay - Tao ở lại vì tao hiểu mình được tha là để làm một việc. Người được tha mà quay xuống đồng bằng sống như chưa có chuyện gì, thì cái tha đó thành vô nghĩa. Tao dựng am ở mỏm đá này. Có một ông đạo già trên núi, lúc đó đã lớn tuổi lắm, nhận dạy tao thuật trấn mãng xà Thất Sơn, dạy tao bộ pháp, dạy tao chỗ huyệt mềm dưới yết hầu, dạy tao kinh để tụng khi phải đứng trước Ông. Sư phụ tao mất năm 1996. Từ đó tới nay, tao giữ một mình.

- Giữ cái gì? - Đen hỏi.

- Giữ miệng hang - Năm Tịnh nói - Giữ lệ. Ngăn những đoàn như đoàn của tao năm 1984, như đoàn của tụi bây bây giờ, đừng vào đào, đừng phá, đừng làm Ông phải tỉnh giấc. Bốn mươi năm, tao không nhớ hết đã đuổi xuống bao nhiêu người. Có người nghe chuông, nghe lời, quay về. Có người chửi tao là già điên, rồi cũng quay về vì không tìm được đường vào thung lũng. Chỉ có ít đoàn vào được tới gốc trầm. Và chưa đoàn nào vào được tới đó mà còn đủ người trở ra, nếu họ không chịu lui.

Sáu Lì trên chõng khẽ rên. Út vội quay lại đỡ hắn uống một ngụm nước lá. Sáu thì thào, mắt không mở hẳn:

- Ông Năm... hồi đó ông buông súng... nên Ông tha. Còn tụi tôi...

- Tụi bây chưa tới lúc hết đường - Năm Tịnh nói - Nhưng đường còn hay không, không nằm ở tao. Nằm ở chỗ tụi bây có chịu trả lại và lui hay không. Tao nói rồi.

Út nhìn khẩu súng gỉ trên vách. Cậu nghĩ tới khẩu súng hoa cải của Đen vẫn còn nạp đạn, nghĩ tới súng một nòng của Sáu Lì, nghĩ tới những phát súng đã nổ trong thung lũng mấy ngày qua. Cậu hỏi:

- Đêm nay, nếu Ông lên tới đây thật, ông tính làm sao? Ông có... - Cậu ngập ngừng, không dám nói hết.

Năm Tịnh hiểu ngay. Ông lắc đầu, dứt khoát:

- Tao không giết Ông. Không bao giờ. Tao học thuật này không phải để giết Ông. Thuật của tao chỉ là phong nọc, là thuần phục khi Ông đang giận, là đứng giữa để người còn biết lui có một đường lui. Ai biểu tao giết Ông là người đó chưa hiểu gì về núi này hết. Giết không được, mà cũng không được phép nghĩ tới chuyện giết.

Ông đứng dậy, chậm rãi vì tuổi già và vì phải vịn vào mép chõng, rồi bước tới vách, ngẩng nhìn khẩu súng gỉ của chính mình. Ông không lấy nó xuống. Ông chỉ chỉ vào nó cho cả am cùng thấy.

- Súng của tao đó. Bốn mươi năm rồi, nó chưa nạp lại viên đạn nào. Đêm nay, tao cũng chỉ mang gậy và chuông xuống hang thôi.

Ngoài am, cơn mưa đầu tiên của trận bão trút xuống mái tranh thành một tràng dài không dứt, và tiếng chuông đồng ngoài hiên rung lên, không ai chạm vào.

Chương khác

Xem thêm