HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 6: Thung Lũng Cấm

Cửa Thung Lũng Cấm là một khe hẹp giữa hai vách đá dựng đứng. Đoàn người phải đi thành hàng một mới lọt qua được. Hai bên vách đá cao chót vót, rêu phong…

Nội dung chương

Cửa Thung Lũng Cấm là một khe hẹp giữa hai vách đá dựng đứng.

Đoàn người phải đi thành hàng một mới lọt qua được. Hai bên vách đá cao chót vót, rêu phong phủ kín, nước từ trên cao rỉ xuống thành từng vệt đen dài. Út đi cuối, ba lô cọ vào vách đá kêu sột soạt. Hơi lạnh trong khe đá phả ra từng luồng rõ rệt, lạnh hơn hẳn không khí bên ngoài, mang theo một mùi tanh rất nhẹ mà cậu đã ngửi thấy thoáng qua ở bìa rừng hôm qua, lần này đậm hơn và không lẫn đi đâu được.

Vừa bước qua khe đá, cả đoàn dừng lại cùng một lúc, không ai bảo ai.

Thung Lũng Cấm mở ra trước mặt họ như một cái lòng chảo khổng lồ bị giấu kín giữa núi. Ba bề là vách đá và rừng già dựng đứng, chỉ có một khe cửa duy nhất họ vừa đi qua. Đang là giữa trưa ngày thứ hai, vậy mà trong thung lũng mù sương dày đặc, ánh sáng chỉ là một màu xám trắng lờ mờ như lúc trời vừa rạng. Sương không trôi đi đâu cả. Nó nằm yên trong lòng chảo, từng lớp, từng lớp, như đã nằm ở đây từ rất lâu và không có ý định rời đi.

Và im lặng. Một sự im lặng khác hẳn rừng bên ngoài.

Ở rừng sườn núi, dù vắng tới đâu cũng còn tiếng chim, tiếng côn trùng, tiếng lá xào xạc. Trong thung lũng này, Út đứng nghe một lúc lâu mà không nghe thấy một tiếng chim nào. Không có tiếng ve, không có tiếng dế. Chỉ có tiếng nước nhỏ giọt từ vách đá xuống những vũng nước khuất đâu đó trong sương, từng giọt, từng giọt, đều đặn và lạnh lẽo. Cả đoàn bất giác đều hạ giọng xuống khi nói chuyện, như thể nói lớn ở đây là một điều sai trái.

- Tới rồi, Đen nói, giọng hắn cũng nhỏ lại dù hắn cố làm ra vẻ bình thường. - Đây là thung lũng tao nói. Dựng lán ở bãi đất trống phía trước kia. Ba, Tám, dọn đất. Sáu, đi một vòng coi quanh đây có gì không. Mẹo, nấu nước.

Bãi đất trống nằm gần một con suối cạn ở phía tây thung lũng, đất tương đối bằng phẳng, ít cây nhỏ. Trong lúc dọn đất dựng lán chính, Út để ý thấy quanh bãi đất không có dấu thú rừng thông thường như ở ngoài. Không có dấu heo rừng ủi đất, không có phân khỉ, không có lông chim rụng. Đất ở đây sạch một cách kỳ lạ, như có ai thường xuyên quét dọn, hoặc như không con thú nào dám bén mảng tới gần để làm bẩn nó.

Chính ở bìa bãi đất, sát con suối cạn, cả đoàn nhìn thấy tấm biển.

Đó là một tấm biển cấm cũ của kiểm lâm, dựng trên một cây cọc sắt đã rỉ sét gần hết. Tấm biển bằng tôn, sơn xanh đã bong tróc từng mảng lớn, chữ sơn trắng ngày trước giờ chỉ còn đọc được lõm bõm vài chữ mờ. Út nheo mắt nhìn trong sương. Cậu đọc được chữ cấm, chữ rừng, và một dòng số hiệu đã mất gần hết. Phía dưới tấm biển còn một dòng chữ nhỏ hơn, bị rỉ sét ăn mất một nửa, chỉ còn lại mấy chữ rời rạc cảnh báo nguy hiểm và cấm vào. Tấm biển đã đứng ở đây rất nhiều năm. Rêu bám lên tới nửa thân cọc. Dây leo quấn quanh chân biển như những ngón tay khô quắt đang cố kéo nó xuống đất.

- Biển này của kiểm lâm hồi nào vậy anh Đen, Tám Râu hỏi. - Sao dựng tuốt trong này, ai mà vô tới đây để đọc.

- Hồi trước người ta tính làm khu bảo vệ gì đó rồi bỏ, Đen đáp, giọng thờ ơ. - Biển cũ, hết giá trị rồi. Để đó vướng đường dọn lán.

Hắn bước tới, nắm lấy thân cọc sắt. Hắn giật mạnh một cái, hai cái. Cọc sắt đã rỉ mục ở chân nên không chịu được sức của một người đàn ông khỏe mạnh. Tấm biển nghiêng đi, rồi đổ xuống với một tiếng kêu ken két chát chúa vang vọng khắp thung lũng im lặng. Tiếng kêu đó dội vào vách đá ba bề rồi quay trở lại, nghe như có ai vừa gõ vào một chiếc chuông vỡ.

Út giật mình. Cậu cảm thấy hành động đó sai trái một cách không giải thích được, như vừa phá bỏ một niêm phong thiêng không phải chỉ là một tấm biển sắt. Nó giống như xé bỏ tờ giấy niêm phong trên cửa một căn nhà mà chủ nhà chỉ tạm đi vắng.

Đen chưa dừng lại ở đó. Hắn nhấc cả tấm biển lẫn cây cọc lên, vác ra bờ suối cạn, rồi quăng mạnh xuống lòng suối. Tấm biển rơi xuống giữa những phiến đá, kêu lên một tiếng choang khô khốc, rồi nằm im ở đó, mặt biển úp xuống bùn, như một thứ rác rưởi không còn ai cần tới.

- Vậy cho gọn, hắn nói, phủi tay. - Khỏi ai lần theo dấu mà biết mình vô đây. Kiểm lâm bây giờ cũng không ai leo tới chỗ này đâu, nhưng cẩn thận vẫn hơn.

Không ai trong đoàn phản đối. Sáu Lì nhìn tấm biển nằm dưới lòng suối một lúc lâu, rồi quay đi dựng lán, không nói một lời. Ba Gai và Tám Râu tiếp tục dọn đất như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có Út đứng yên thêm một lúc bên bờ suối, nhìn cây cọc rỉ sét chỏng chơ giữa đá, trong lòng dâng lên một cảm giác bất an mơ hồ mà cậu không gọi tên được. Ngoại cậu từng nói, người ta dựng biển cấm ở đâu là ở đó có chuyện. Bẻ biển đi không làm cho chuyện đó biến mất. Nó chỉ làm cho người bẻ biển không còn được nhắc nhở nữa.

Út còn để ý một điều nữa trong lúc dọn đất. Ở bìa bãi trống, có mấy đống lá mục bị hất tung lên một cách kỳ lạ, như vừa có vật gì rất lớn trườn qua đây không lâu trước khi đoàn tới, ép lá mục dồn sang hai bên thành những gờ dài. Cậu định bụng sẽ chỉ cho Sáu Lì xem khi có dịp riêng, vì cậu đã học được từ hôm qua rằng những điều mình nhìn thấy trong rừng này, nói ra giữa đám đông chỉ chuốc lấy tiếng cười hoặc một cái gắt của Đen.

Lán chính được dựng xong trước khi sương chiều xuống dày hơn. Lần này lán chắc chắn hơn lán tạm ở sườn núi, có bạt che mưa tử tế, có chỗ chứa dụng cụ và cưa máy riêng, có bếp đá xếp đàng hoàng. Đen phân công khu vực rõ ràng. Chỗ ngủ ở phía trong, chỗ nấu ăn ở phía ngoài gần suối, dụng cụ đào để ở một góc riêng phủ bạt kín. Hắn làm mọi việc theo bài bản của một người đã từng chỉ huy những chuyến đi dài ngày trong rừng, và cũng theo bài bản của một người đã từng dựng lán ở chính nơi này.

Trong lúc nấu ăn, Út đi lấy nước ở con suối cạn. Suối gần như không có nước chảy, chỉ có từng vũng nhỏ đọng giữa đá, nước trong và lạnh buốt. Cậu múc nước vào can, và chợt nhận ra một điều làm cậu rùng mình. Quanh bãi đất và con suối, tịnh không có một tiếng côn trùng nào. Ở sườn núi đêm qua, côn trùng kêu rỉ rả tới nửa đêm. Ở đây, ngay giữa ban ngày, rừng cũng im lặng như đang nín thở. Chỉ có tiếng nước nhỏ giọt từ vách đá, từng giọt, từng giọt, không bao giờ ngừng.

Ba Gai lúc đó đang đi vòng quanh bãi đất, thỉnh thoảng cúi xuống ngửi đất như một thói quen nghề nghiệp. Bỗng hắn dừng lại, ngửi một hơi thật sâu, rồi ngửi thêm một hơi nữa, mặt hắn sáng lên một vẻ mà Út chưa từng thấy ở hắn kể từ đầu chuyến đi. Đó là nét mặt của kẻ đào trầm vừa ngửi thấy thứ mình tìm kiếm cả đời.

- Mấy anh ơi, hắn gọi, giọng run lên vì phấn khích. - Mùi trầm. Mùi trầm thơm nghẹn ở quanh đây nè. Không phải mùi trầm thường đâu. Mùi này ngọt và sâu, là mùi kỳ nam đó. Nó ở rất gần. Gần lắm.

Hắn đi thêm mấy bước về phía giữa thung lũng, nơi sương còn dày đặc nhất, vừa đi vừa hít hà như một con chó săn đánh hơi. Cả đoàn bỏ dở công việc, đi theo hắn. Út xách can nước đi sau cùng, tim đập mạnh không rõ vì sợ hay vì bị cuốn theo sự phấn khích của Ba Gai.

Sương trong thung lũng lúc đó bắt đầu tan dần, dù không có gió và không có nắng. Nó tan từ phía giữa thung lũng trước, từng lớp màn trắng rút đi chậm rãi, để lộ ra mặt đất phủ đầy lá mục đen sẫm, rồi những gốc cây nhỏ không mọc nổi, rồi một khoảng đất trống rộng không một ngọn cỏ.

Và rồi, qua màn sương đang tan, ở giữa thung lũng, một cây cổ thụ khổng lồ hiện ra.

Cả đoàn đứng chết lặng, không ai nói được câu nào, kể cả Ba Gai.

Cây cao vượt hẳn mọi cây khác trong thung lũng, thân xù xì đen sẫm, tán lá rộng lớn phủ kín gần nửa bầu trời xám trắng phía trên lòng chảo. Quanh gốc cây, trong một vòng tròn rộng, không một cây con nào mọc nổi, không một bụi cỏ nào sống được. Mặt đất quanh gốc cây sạch và trống như một cái sân vừa được quét. Giữa buổi trưa không nắng, cây cổ thụ đứng đó một mình, to lớn và lặng im trong sương, như đã đứng như vậy từ trước khi có bất cứ con người nào đặt chân tới vùng Bảy Núi này. Út ngẩng đầu nhìn lên tán cây cao khuất trong sương trắng mà cổ mỏi nhừ, trong lòng chỉ còn lại một ý nghĩ duy nhất sau cùng. Họ đã tìm thấy đúng thứ họ đi tìm. Và thứ họ đi tìm lớn hơn, già hơn, và đáng sợ hơn tất cả những gì họ tưởng tượng rất nhiều.

Chương khác

Xem thêm