HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 24: Nó chỉ còn tiếng nói
Ngày ba mươi tháng mười một, Nguyễn Thu Hà khóa cửa khoang điều khiển từ bên trong và làm việc liên tục từ sáng tới chiều với toàn bộ bản ghi âm của dự…
Nội dung chương
Ngày ba mươi tháng mười một, Nguyễn Thu Hà khóa cửa khoang điều khiển từ bên trong và làm việc liên tục từ sáng tới chiều với toàn bộ bản ghi âm của dự án.
Trên ba màn hình trước mặt cô là những thứ mà người ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy như những vệt màu vô nghĩa: phổ tần của đoạn âm lạ bốn giây trong ca lặn ngày mùng bảy. Mười một giây trong một bản ghi rà soát, hai mươi sáu giây trong đêm mười lăm. Tiếng cười rõ nhất qua hydrophone lúc hai mươi ba giờ bốn mươi bảy phút đêm mười lăm, đoạn giọng gọi tên trong log ca lặn đêm hai mươi ba của Trần Quốc Bảo. Và cả những bản ghi trắng của những đêm không có chuyện gì xảy ra, mà Hà vẫn giữ lại đầy đủ để đối chiếu.
Cô làm việc theo cách cô vẫn làm với mọi dữ kiện: không tin vào ấn tượng đầu tiên, kể cả ấn tượng của chính mình.
Việc đầu tiên là loại trừ thiết bị. Hà kiểm tra từng kênh thu, từng hydrophone, từng đường truyền từ bộ đàm dưới nước lên tàu. Nếu tiếng cười là nhiễu của thiết bị, nó phải mang dấu vết của thiết bị: tần số cộng hưởng của vỏ hydrophone, tiếng ồn của máy phát, tiếng va chạm của dây cáp vào vỏ tàu. Cô chạy đối chiếu với các bản ghi kiểm tra thiết bị đầu mỗi ca, những bản ghi mà đội vẫn làm theo quy trình mà ít ai nghe lại.
Tiếng cười không khớp với bất kỳ mẫu nhiễu nào trong số đó.
Việc thứ hai là loại trừ giọng người thật trong đội. Cô lấy mẫu giọng của toàn bộ thành viên, nam và nữ, kể cả giọng của chính cô khi đọc số liệu qua bộ đàm, chạy so sánh cấu trúc âm sắc với các đoạn ghi lạ. Không một giọng nào trong đội khớp. Giọng phụ nữ trong các bản ghi không thuộc về bất kỳ ai từng có mặt trên tàu hay ở bến Quảng An trong những đêm đó. Hà ghi điều này vào sổ tay bằng một dòng ngắn, rồi gạch chân.
Việc thứ ba mới là việc khiến cô ngồi yên rất lâu trước màn hình.
Cô tách phổ của tiếng cười hai mươi sáu giây ra thành từng lớp. Phần nghe rõ bằng tai thường nằm ở dải tần giọng người, khúc khích, có nhịp, có hơi thở giả như hơi thở. Nhưng bên dưới lớp ấy, chạy song song từ đầu tới cuối đoạn ghi, không đứt đoạn, là một dải hạ âm rất thấp, thấp hơn ngưỡng nghe của tai người, chỉ cảm nhận được như một sức ép mơ hồ lên lồng ngực và lên trạng thái tỉnh táo. Dải hạ âm ấy không có trong bất kỳ bản ghi giọng người nào mà thiết bị của đội từng thu được qua môi trường nước. Giọng người thật, khi truyền qua nước và qua hydrophone, bị nước lọc đi rất nhiều thành phần, bị méo, bị mất đầu mất đuôi. Còn dải hạ âm này thì nguyên vẹn một cách bất thường, như thể nguồn phát của nó sinh ra ngay trong nước, ở một nơi rất gần hydrophone mà cũng rất sâu.
Hà chạy định vị nguồn phát theo chênh lệch thời gian tới của âm thanh trên các hydrophone đặt ở các vị trí khác nhau quanh vùng K9. Cô chạy ba lần, bằng hai cách tính khác nhau, vì cô không tin vào kết quả lần đầu.
Cả ba lần đều cho cùng một đáp án: nguồn phát nằm ở hướng trong hang, phía sau miệng hang đá, ở khoảng trống giữa gò xương mà camera nội soi đã ghi lại ngày mười bảy.
Không phải ở miệng hang. Không phải ở rìa hang. Mà ở chính giữa lòng hang, nơi không có thiết bị nào của con người, không có sinh vật lớn nào được ghi nhận, chỉ có xương cổ chất thành vòng tròn quanh một khoảng trống.
Hà in biểu đồ ra, đặt cạnh ảnh chụp gò xương. Cô nhìn hai tờ giấy rất lâu.
Buổi chiều, Đỗ Trọng Nghĩa và Lê Văn Thắng vào khoang điều khiển. Hà không trình bày ngay kết luận. Cô cho họ nghe lại từng đoạn, chỉ lên từng lớp phổ, nói rõ đâu là điều máy đo được, đâu là điều cô suy ra, đâu là điều cô chưa giải thích được. Đó là cách cô tôn trọng hai người nghe của mình, và cũng là cách cô tôn trọng chính dữ kiện.
- Phần chắc chắn nhất là thế này. Âm thanh không phải nhiễu thiết bị. Không phải giọng của ai trong đội, cũng không giống giọng người thật ghi qua nước bằng thiết bị của ta. Nó có một dải hạ âm đi kèm mà giọng người qua nước không tạo ra được như vậy. Và nguồn phát, tính theo cả ba hydrophone, đều chỉ vào trong hang.
Nghĩa hỏi:
- Có khả năng là một thiết bị phát âm của ai đó đặt trong hang không? Một trò phá hoại, một máy phát giấu sẵn?
- Em đã nghĩ tới khả năng đó đầu tiên. Nhưng hang được phát hiện ngày mười ba tới mười lăm, trước đó không có dấu vết xâm nhập trong log sonar và log trực bến. Một thiết bị đặt sẵn từ trước phải cần nguồn điện, phải cần bảo trì, và nhất là nó phải biết tên của Bảo để gọi đúng vào đêm hai mươi ba. Không ai ngoài đội biết lịch lặn đêm và phân công từng ca chi tiết tới mức đó, và trong đội thì không ai có giọng như vậy.
Thắng ngồi im, hai tay đan vào nhau. Anh hỏi một câu rất ngắn.
- Vậy nó là cái gì, Hà?
Hà nhìn xuống biểu đồ một lần nữa trước khi trả lời. Cô biết câu trả lời tiếp theo của mình sẽ thay đổi cách cả đội gọi tên thứ ở dưới hang, có thể là thay đổi vĩnh viễn. Trước ngày hôm nay, đội vẫn nói vòng vo: hiện tượng âm thanh, âm lạ, giọng nói chưa rõ nguồn. Những chữ ấy là những chữ của người chưa dám kết luận.
- Em xin nói rõ, đây là giả thuyết làm việc, không phải kết luận khoa học. Nhưng là giả thuyết duy nhất tới giờ khớp với mọi dữ kiện ta có.
Cô đứng dậy, chỉ vào ảnh gò xương.
- Con cáo trong truyền thuyết đã chết từ lâu rồi. Xương của nó, nếu còn, cũng nằm đâu đó trong lớp xương cổ nhất của cái hang này. Không có thân xác nào còn sống dưới đó sau vài ngàn năm, không có sinh vật nào thở, bơi, hay đứng ở miệng hang cả. Bảo không nhìn thấy một thân xác thật. Thắng không đối mặt với một thân xác thật đêm hai mươi tám.
- Vậy thứ gọi tên người của mình là gì?
- Là phần còn lại của nó, bám vào chính sào huyệt của nó. Các cụ gọi bằng nhiều tên. Em gọi theo cách làm việc của mình: một dư âm có khả năng tác động. Nó không có thân, nên nó không biến hình được, không lên bờ được, không chạm vào vật gì được, không kéo ai xuống nước được bằng sức của nó. Nó chỉ làm được đúng một việc, và nó làm việc đó bằng toàn bộ phần còn lại của nó: phát ra tiếng nói qua nước và qua thiết bị của ta, trong vùng quanh miệng hang, mạnh nhất vào ban đêm và khi sương dày.
Nghĩa tiếp lời, chậm rãi, như đang tự kiểm tra từng ý.
- Và người nghe chỉ gặp nguy hiểm khi tự mình nghe theo nó. Tự tháo thiết bị. Tự bước xuống nước.
- Đúng. Nó không giết được ai trực tiếp. Nó chỉ gọi. Việc còn lại, nó để cho người nghe tự làm trong trạng thái bị tác động. Dải hạ âm này, em tin là thứ làm cho người nghe choáng, mộng du, và thấy những hình ảnh mà bộ não tự dựng lên. Bảo thấy người đàn bà trong miệng hang. Đó là hệ quả của việc bị tác động, không phải là nó hiện hình.
Phòng điều khiển im lặng. Ngoài cửa kính, mặt hồ xám xịt trong buổi chiều cuối tháng mười một.
Thắng nói khẽ:
- Bảo giấu chuyện thấy hình bóng đó tới hôm qua mới kể với anh, sau đêm mộng du. Nó sợ mất suất lặn.
- Em biết. Và việc giấu ấy suýt nữa làm dữ kiện của ta thiếu mất một mảnh quan trọng. Từ nay, mọi triệu chứng, dù nhỏ, phải ghi hết. Không ai bị phạt vì ghi triệu chứng. Em sẽ làm mẫu phiếu ghi riêng cho việc này.
Hà ngồi xuống, và nói câu cuối cùng của buổi trình bày, câu mà sau này cả đội sẽ nhắc lại nhiều lần, trong những đêm còn khó khăn hơn đêm nay rất nhiều.
- Nó chỉ còn tiếng nói. Thân xác chết từ lâu rồi. Ta đang nghe một cái xác chết nói mơ.
Nghĩa gật đầu. Anh không nhận xét câu ấy hay dở. Anh chỉ lấy bút, ghi vào sổ công tác của mình nguyên văn giả thuyết làm việc của Hà, kèm ngày tháng, kèm ba giới hạn mà cô vừa nêu: không thân xác. Không ra khỏi vùng quanh miệng hang, mỗi lần gọi một người xong nó yếu đi và khoảng lặng sau đó dài hơn. Điều cuối cùng này Hà bổ sung khi rà lại biểu đồ thời gian: sau đêm hai mươi ba gọi tên Bảo, phải tới đêm hai mươi sáu mới có ảo giác ban ngày ở rìa hang, rồi đêm hai mươi tám mới có mộng du trên tàu. Khoảng cách không ngắn lại một cách đơn giản như biểu đồ độ dài tiếng cười cho thấy. Có hai nhịp khác nhau: tiếng cười ghi được thì dài dần, nhưng những lần tác động trực tiếp lên một người cụ thể thì thưa hơn, như thể mỗi lần gọi đích danh một ai đó, nó phải trả một cái giá rất lớn.
- Ghi cả điều đó vào. Nếu nó đúng, thì càng về sau, nó càng phải chọn kỹ người nó gọi. Và nó sẽ chọn người ở gần hang nhất, điều khiển thiết bị, quyết định việc xuống nước.
Nghĩa nói câu đó mà không nhìn ai. Hà hiểu anh đang nghĩ tới ai. Thắng cũng hiểu.
Buổi tối, Hà ở lại khoang điều khiển một mình, sao lưu toàn bộ kết quả phân tích vào hai nơi khác nhau theo thói quen nghề nghiệp. Cô đặt tên cho thư mục mới bằng một cái tên khô khan cố ý, chỉ gồm ngày tháng và mã vùng K9, không có một chữ nào giật gân. Cô không muốn dữ kiện của mình bị ai đó sau này bảo là sản phẩm của trí tưởng tượng.
Trước khi tắt màn hình, cô nghe lại một lần cuối đoạn ghi hai mươi sáu giây ở mức âm lượng nhỏ nhất có thể nghe được. Tiếng cười khúc khích chạy qua tai nghe, và bên dưới nó, dải hạ âm mà tai cô không nghe thấy nhưng phần mềm vẫn vẽ thành một vệt tối liền mạch. Như một hơi thở rất dài của một thứ đã không còn phổi để thở từ vài ngàn năm trước.
Cô tắt máy.
Từ đêm ba mươi tháng mười một, trong nội bộ đội khảo sát, thứ ở dưới đáy Hồ Tây không còn được gọi là hiện tượng nữa.
Nó có một giả thuyết, một giới hạn, và một cách tác động đã được gọi tên. Và cả đội đều hiểu, gọi được tên nó không làm nó yếu đi chút nào. Nó chỉ làm cho họ biết rõ hơn rằng trận chiến của họ, nếu có, sẽ là một trận chiến với một tiếng nói, và tiếng nói ấy đang học cách chọn đúng người để gọi.
---