HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 25: Thủy Lôi Trận
Ngày mùng một tháng mười hai, gói tài liệu của TS Trịnh Ngọc Lan gửi tới tàu khảo sát qua đường văn thư của viện, kèm một phong bì riêng ghi tên Đỗ Trọng…
Nội dung chương
Ngày mùng một tháng mười hai, gói tài liệu của TS Trịnh Ngọc Lan gửi tới tàu khảo sát qua đường văn thư của viện, kèm một phong bì riêng ghi tên Đỗ Trọng Nghĩa.
Bên trong phong bì là bản dịch mới nhất của một đoạn trong Lĩnh Nam Chích Quái, phần chép về con cáo chín đuôi ở đất Long Biên xưa. Cùng mười hai trang ghi chép tay của TS Lan, chữ viết nhỏ và đều, có đánh số trang, có ghi rõ nguồn đối chiếu ở cuối mỗi đoạn. Nghĩa đọc chậm, theo thói quen của người làm kỹ thuật đọc tài liệu ngoài chuyên môn: đọc một lần để nắm ý, đọc lần thứ hai để gạch chân những chỗ có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện của đội mình.
Phần đầu của bản dịch kể lại những điều anh đã nghe TS Lan trình bày hôm hai mươi mốt tháng mười một, ở phòng làm việc của bà. Con cáo chín đuôi là mãnh thú ăn thịt người, không phải hồ ly tinh ranh quyến rũ trong những truyện kể đời sau. Nó dụ trai gái và người đi lẻ về hang, xé xác, xương chất trong hang qua nhiều đời người. Dân quanh vùng không dám đi qua vùng nước ấy vào ban đêm. Tiếng khóc, tiếng cầu cứu lan tới triều đình cổ, và Lạc Long Quân thân chinh tới diệt trừ.
Phần Nghĩa đọc đi đọc lại ba lần nằm ở những trang cuối.
Theo ghi chép của TS Lan, Lạc Long Quân không đánh con cáo bằng một trận giáp lá cà thông thường. Ngài cho người khảo sát dòng chảy của sông Hồng khi ấy, chọn đúng mùa nước lớn, rồi lập một trận mà người chép sách đời sau gọi là Thủy Lôi Trận. Trong trận ấy, người ta dùng tiếng trống đồng.
Bản dịch chép, theo văn cổ được TS Lan diễn giải cẩn thận: trống đồng được gõ liên hồi ở nhiều điểm quanh vùng nước, tiếng đồng trầm và vang xa truyền qua mặt nước và qua cả lòng nước. Dội vào vách hang, làm con cáo hoảng loạn, mất phương hướng, không còn nghe được tiếng của chính nó, không còn dụ được con mồi, buộc phải lùi sâu vào trong hang. Đúng lúc ấy, nước sông Hồng được dâng lên, đổ vào hang suốt ba ngày ba đêm. Hang sụp. Con cáo chết chìm trong chính sào huyệt của mình. Vùng nước sau đó được gọi là Đầm Xác Cáo.
Nghĩa đặt tờ giấy xuống, nhìn ra cửa kính khoang điều khiển. Ngoài kia là Hồ Tây buổi trưa mùa đông, mặt nước phẳng, xám, không một gợn sóng lớn. Khó mà hình dung dưới mặt nước phẳng ấy từng có một trận đánh bằng âm thanh và dòng chảy, với tiếng trống đồng gõ suốt nhiều ngày.
Nhưng có một chi tiết trong ghi chép của TS Lan khiến anh không thể bỏ qua, và chính bà cũng đã khoanh tròn nó bằng bút đỏ ở trang chín.
Chi tiết ấy là: tiếng trống đồng lặp lại trong thư tịch không phải là chi tiết trang trí. Trong nhiều bản chép khác nhau, dù văn phong và tình tiết có khác, chi tiết tiếng đồng trấn áp con cáo đều được giữ nguyên. TS Lan viết ở phần ghi chú: khi một chi tiết kỹ thuật được giữ nguyên qua nhiều đời chép sách, trong khi các chi tiết thần thoại khác bị thêm bớt thoải mái. Rất có thể chi tiết ấy bắt nguồn từ một kinh nghiệm thật của người xưa: âm thanh của đồng, vang lớn qua nước, làm tan khả năng dụ mồi bằng tiếng nói của con quái.
Nghĩa gấp tài liệu lại, ngồi yên một lúc.
Anh nhớ tới ngày hai mươi hai tháng mười một, trong căn nhà nhỏ của cụ Đào Văn Mùi ở làng Quảng An. Cụ già bảy mươi chín tuổi, tay run run rót trà, đã kể cho anh và Lê Văn Thắng nghe về Vũng Cáo, vùng nước sâu ngoài khơi bán đảo mà dân làng truyền đời dặn nhau phải tránh. Cụ nói, người đi đêm trên hồ mà nghe tiếng cười đàn bà trong sương thì tuyệt đối không đáp lại, không nhìn xuống nước, và phải lấy vật bằng đồng gõ mạnh vào mạn thuyền. Tiếng đồng vang thì tiếng cười tan, thuyền mới qua được.
Khi ấy, Nghĩa đã ghi lại lệ ấy vào sổ như một dữ kiện dân gian cần tôn trọng, nhưng chưa nối nó với điều gì khác. Một bên là thư tịch cổ vài trăm năm, chép về một trận đánh của Lạc Long Quân thời thượng cổ, với trống đồng gõ quanh vùng nước. Một bên là lệ truyền miệng của ngư dân Quảng An ở thế kỷ hai mươi mốt, với một vật đồng bất kỳ gõ vào mạn thuyền gỗ hay thuyền sắt. Hai đầu của sợi dây cách nhau rất xa về thời gian, về ngôn ngữ, về người kể. Vậy mà chúng gặp nhau ở đúng một điểm: tiếng đồng vang qua nước phá tan tiếng gọi của thứ ở trong nước.
Nghĩa mở sổ phân tích mà Nguyễn Thu Hà vừa trình bày hôm qua. Giả thuyết của Hà viết rõ: thứ còn lại trong hang chỉ còn tiếng nói, tác động được người nghe qua âm thanh truyền qua nước và qua thiết bị. Nếu toàn bộ sức mạnh của nó nằm trong âm thanh, thì một âm thanh khác, mạnh hơn, đúng chất liệu, dội qua cùng một môi trường nước, về nguyên lý hoàn toàn có thể phá vỡ nó. Đó không còn là chuyện mê tín. Đó là vật lý của âm thanh, cộng với kinh nghiệm của người xưa được chép lại bằng ngôn ngữ của thời đại họ.
Anh chưa vội kết luận. Nghĩa là người đã bác bỏ mọi chuyện dân gian vào đầu tháng mười một, và anh không muốn mình trở thành người ngược lại: người tin vào mọi chuyện dân gian chỉ vì sợ hãi. Anh tự đặt ra cho mình những câu hỏi kiểm chứng.
Thứ nhất, tiếng đồng trong thư tịch là tiếng trống đồng, một nhạc cụ lớn, gõ thành trận, ở quy mô của một cuộc vây đánh. Một vật đồng nhỏ trong tay một người trên tàu hiện đại liệu có tạo ra hiệu quả tương tự hay không, không ai biết.
Thứ hai, lệ của cụ Mùi là lệ để thuyền qua được vùng nước, để người trên thuyền không bị gọi nữa trong đêm đó. Không một dòng nào trong thư tịch hay trong lời cụ Mùi nói rằng gõ đồng một lần là diệt được thứ ở dưới hang vĩnh viễn. Ngay cả trong truyền thuyết, thứ giết chết con cáo là nước dâng suốt ba ngày ba đêm và hang sụp, sau khi tiếng trống đã dồn nó vào thế không còn đường thoát.
Thứ ba, và quan trọng nhất, đội của anh không có trống đồng cổ, không có một trận Thủy Lôi, không có quyền dâng nước Hồ Tây. Thứ duy nhất trên tàu này làm bằng đồng cổ, có tuổi, có nguồn gốc từ đáy sông Hồng, là một vật mà Nghĩa vẫn nhìn thấy mỗi ngày khi đi qua khoang lái.
Chiếc búa đồng Đông Sơn của Thắng.
Nghĩa đứng dậy, bước ra khỏi khoang điều khiển, đi dọc hành lang hẹp tới khoang lái. Buổi trưa, tàu vắng. Thắng đang dưới sàn sau kiểm tra thiết bị lặn cho ca ngày mai, Hà ở khoang dữ liệu. Khoang lái chỉ có ánh sáng xám của một ngày mùa đông lọt qua cửa kính, và chiếc búa treo ở cửa khoang, im lặng như nó vẫn im lặng suốt từ đầu dự án đến giờ.
Nghĩa đứng nhìn nó một lúc lâu.
Chiếc búa không lớn. Cán gỗ đã sẫm màu theo năm tháng và theo tay người cầm. Phần đầu bằng đồng cổ mang màu xỉn xanh xám ở những chỗ gỉ, và màu đồng trầm ở những chỗ được tay người chạm vào nhiều. Nó không phát sáng, không tự kêu, không có bất kỳ dấu hiệu gì của một vật linh thiêng trong những câu chuyện người ta vẫn kể. Nó chỉ là một vật cổ được một người thợ lặn vớt lên từ đáy sông năm hai nghìn mười chín, giữ bên mình như một vật may mắn, treo ở một chỗ thuận tay.
Vậy mà đứng trước nó lúc này, với mười hai trang ghi chép của TS Lan còn nóng trong đầu, Nghĩa lần đầu tiên nhìn chiếc búa không phải như một kỷ vật cá nhân của đồng nghiệp. Mà như một mảnh của cùng một truyền thống rất dài: tiếng đồng trấn sông, tiếng đồng gọi nước yên, tiếng đồng mà người xưa đã dùng để đối phó với đúng thứ mà đội của anh đang phải đối phó.
- Anh nhìn gì mà lâu thế?
Giọng Thắng vang lên sau lưng. Anh ta vừa từ sàn sau đi lên, tay còn cầm một chiếc khăn lau dầu máy.
Nghĩa không giật mình. Anh quay lại, và hỏi một câu mà chính anh cũng biết nghe qua sẽ giống một câu hỏi vu vơ, không đầu không đuôi.
- Cái búa của cậu, gõ vào vỏ tàu thì kêu to đến đâu?
Thắng nhìn anh, rồi nhìn chiếc búa, như để ước lượng một việc mà anh ta chưa từng làm thử bao giờ. Ít nhất là chưa từng làm với toàn lực, vào vỏ tàu sắt, giữa một đêm sương, vì một lý do như lý do đang dần thành hình trong đầu Nghĩa.
- Đủ để cả mặt hồ nghe thấy.
Thắng đáp, không cười, không đùa. Đó là câu trả lời của một người thợ lặn hiểu rõ chất liệu đồng cổ và hiểu rõ vỏ tàu sắt dưới chân mình sẽ truyền âm đi xa tới đâu qua nước.
Nghĩa gật đầu. Anh không nói thêm gì về Thủy Lôi Trận, không nói về kế hoạch nào, vì thật ra chưa có kế hoạch nào cả. Chỉ có một ý niệm vừa xuất hiện, mong manh và chưa được kiểm chứng: nếu một đêm nào đó, tiếng gọi kia mạnh tới mức không còn cách nào khác. Thì trên con tàu này vẫn còn một âm thanh khác, cổ hơn, trầm hơn, đã từng được người xưa dùng để át nó.
- Cậu giữ nó ở đây, đừng cất đi đâu nhé.
- Nó ở đây mười mấy năm nay rồi anh. Nó không đi đâu cả.
Nghĩa quay về khoang điều khiển, mở sổ công tác, ghi lại ngày tháng nhận tài liệu của TS Lan, ghi tóm tắt chi tiết Thủy Lôi Trận và chi tiết khoanh đỏ ở trang chín. Rồi ghi thêm một dòng về sự trùng khớp với lệ gõ vật đồng của dân Quảng An mà cụ Mùi đã kể hôm hai mươi hai.
Anh không ghi dòng nào về chiếc búa. Điều đó, anh giữ trong đầu mình, như một quân bài chưa đến lúc đặt xuống bàn, và có thể sẽ không bao giờ cần đặt xuống, nếu mọi việc dừng lại ở mức ghi chép và phong tỏa bằng văn bản.
Buổi chiều hôm ấy, Nghĩa gọi điện cảm ơn TS Lan. Bà nghe anh tóm tắt giả thuyết dư hồn của Hà, im lặng một lúc, rồi nói:
- Nếu giả thuyết của các anh đúng, thì người xưa không diệt được nó hết, kể cả với một trận lớn như vậy. Họ chỉ diệt được thân xác. Các anh phải cẩn thận hơn người xưa, vì các anh không có ba ngày ba đêm nước dâng, và các anh ở ngay trên mặt nước của nó mỗi đêm.
Nghĩa cúp máy, nhìn ra mặt hồ đang tối dần. Ngày mùng một tháng mười hai trôi qua như vậy, không có ca lặn đêm, không có tiếng cười nào được ghi lại. Nhưng trong sổ của Nghĩa, một lớp nữa của một cơ chế rất cổ đã được đặt xuống, ngay ngắn, có nguồn, có đối chiếu.
Lớp thứ ba, sau chiếc búa xuất hiện trên tàu và sau lệ gõ đồng của làng Quảng An, giờ đã có tên trong thư tịch.
Thủy Lôi Trận.
---