Hoàng Bì Đổi Vận - Chương 7: Linh Cảm Nhạy Bén
Mười ngày sau đêm dằn mặt Thầu Chín, tôi cầm trọn xấp tiền mặt ba mươi triệu đồng bước thẳng vào căn nhà ngói ba gian của lão Cả Đạt ở dốc đồn Cao Lộc.…
Nội dung chương
Mười ngày sau đêm dằn mặt Thầu Chín, tôi cầm trọn xấp tiền mặt ba mươi triệu đồng bước thẳng vào căn nhà ngói ba gian của lão Cả Đạt ở dốc đồn Cao Lộc.
Lão Cả Đạt là chủ xe cũ của tôi, một tay trùm xe thồ đất biên giới có thâm niên mười mấy năm gom hàng chuyến từ Đồng Đăng về xuôi. Ngày trước, mỗi lần đến kỳ hạn nộp tiền phế chuyến hoặc xin khất tiền thuê xe, tôi đều phải đứng nép bên bậc cửa, hai tay xoa vào ống quần lấm lem dầu mỡ, dạ thưa cẩn trọng từng lời mong lão thư thả vài ngày. Hôm nay, tôi đạp tung then cài cổng gỗ, sải bước vào giữa gian khách.
Lão Cả Đạt đang ngồi rít thuốc lào bên chiếc bàn gỗ nghiến, ngẩng đầu lên nhìn tôi bằng nửa con mắt. Lão nhổ toẹt bãi nước bọt xuống gậm bàn, cất giọng khàn rè:
"Mày lại đến xin chạy nợ tiền dầu chuyến trước à? Tao nói cho mày biết, cái xe Giải Phóng năm tấn ấy nát lắm rồi, tháng này mày nộp không đủ bốn triệu tiền thuê thì liệu mà trả chìa khóa lại cho tao. Đám tài xế mạn Lộc Bình đang xếp hàng đợi tao gật đầu kia kìa."
Tôi không nói một lời. Tôi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi ra, ngồi đối diện lão, rồi rút từ trong bọc vải dù đen ra ba cọc tiền năm mươi nghìn đồng mới cứng, dằn mạnh xuống mặt bàn gỗ nghiến. Tiếng tiền giấy va vào gỗ khô phát ra âm thanh trầm đục, dứt khoát.
Khói thuốc lào vừa phả ra từ miệng lão Cả Đạt bỗng khựng lại giữa chừng. Lão tròn mắt nhìn đống tiền dày cộp, điếu cày trên tay run rẩy suýt tuột khỏi kẽ ngón tay cáu bẩn.
"Ba mươi triệu." Tôi cất tiếng, giọng nói trầm và lạnh tanh, khô khốc như tiếng hai thanh sắt va chạm. "Mua đứt chiếc Giải Phóng cùng toàn bộ giấy tờ đăng ký, sổ lưu hành của lão. Viết giấy chuyển nhượng ngay bây giờ."
Lão Cả Đạt nuốt ực một ngụm nước bọt, đặt điếu cày xuống chân bàn rồi vươn tay định chộp lấy cọc tiền. Nhưng bàn tay lão vừa đưa ra nửa chừng, tôi đã đè chặt mu bàn tay đầy gân guốc của mình lên đống tiền, ghim chặt nó xuống mặt bàn. Đôi mắt tôi trừng trừng nhìn thẳng vào lão.
"Viết giấy trước, đếm tiền sau." Tôi gằn từng tiếng.
Lão Cả Đạt giật mình rụt tay lại. Lão ngước lên nhìn tôi, ánh mắt lão chạm vào tròng mắt tôi rồi bỗng khựng lại. Dưới ánh sáng le lói hắt vào từ cửa sổ gian khách, viền vàng quắt trong mắt tôi ánh lên rõ rệt. Lão già buôn xe sừng sỏ vùng biên bỗng rùng mình một cái, da gà trên cánh tay lão nổi cục từng mảng. Lão không dám nhìn thẳng vào mặt tôi nữa, vội vàng cúi gằm mặt lục lọi ngăn kéo tìm tờ giấy kẻ ngang và cây bút Kim Tinh.
Từng nét chữ run rẩy được lão viết ra. Con dấu mộc đỏ của hợp tác xã vận tải cũ được đóng lên giấy chuyển nhượng. Khi tờ giấy ráo mực, tôi thu gọn giấy tờ nhét vào túi áo ngực, buông tay cho lão vơ lấy ba cọc tiền.
Chiếc xe Giải Phóng năm tấn mang biển số 12A-0482 từ giờ phút này đã hoàn toàn thuộc về tôi.
Rời khỏi nhà lão Cả Đạt, tôi không cảm thấy nhẹ nhõm như bản thân từng nghĩ. Sự hiền lành, nhẫn nhục của một gã tài xế nghèo hèn từng bị đè nén suốt bao năm qua đã biến mất sạch trơn, nhường chỗ cho một cảm giác lạnh lùng, tàn nhẫn và thèm khát quyền lực đang cuộn trào trong từng đường gân thớ thịt.
Tôi lái xe thẳng ra bãi đỗ xe hàng chuyến ở ngã ba thị xã Lạng Sơn.
Mùa đông năm 1994, biên giới bước vào đợt buôn chuyến sôi động nhất trong năm. Các đoàn xe từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định nối đuôi nhau đổ về cửa khẩu Hữu Nghi để đón hàng may mặc, đồ gia dụng và rượu ngoại tuồn qua biên giới. Cả một bãi đất rộng ven sông Kỳ Cùng mù mịt khói dầu diesel và nồng nặc mùi bùn đất.
Tại quán nước chè đầu bến, cánh tài xế đang tụ tập bàn tán xôn xao về các cung đường đèo hiểm trở. Khi thấy chiếc Giải Phóng của tôi trờ tới, đám đông bỗng dạt ra hai bên.
Bác Sáu Lôi, một tài xế già có thâm niên chạy đường 4B gần hai mươi năm, cầm chén chè tươi bước lại gần cabin xe tôi. Bác nhìn tôi với ánh mắt ái ngại:
"Bính đấy à? Nghe nói mày mới trúng quả đậm mấy chuyến đèo Kéo Luông? Nhưng tao khuyên thật, đường đèo dạo này sương muối độc lắm, mấy tổ tuần tra lưu động của biên phòng rải quân dày đặc ở các ngã ba. Mày chạy đêm đơn thương độc mã thế, có ngày sập bẫy cả người lẫn xe đấy con ạ."
Tôi nhảy từ cabin xuống đất, tiếng đế ủng da nện cộc một tiếng khô khốc xuống nền đá dăm. Tôi liếc nhìn bác Sáu Lôi, không hề có một chút tôn kính nào của kẻ hậu bối như trước kia.
"Bác già rồi, mắt kém thì nhường đường cho người khác chạy. Đèo Kéo Luông hay đèo Tam Lung, đường nào đem lại tiền thì tôi chạy." Tôi lạnh lùng buông một câu rồi đi thẳng vào quán, nơi lão Thắng chột đang ngồi đợi sẵn với mấy chủ hàng người Hoa.
Bác Sáu Lôi đứng sững lại giữa bãi đất, nét mặt sững sờ xen lẫn tức giận trước thái độ hỗn hào của tôi. Nhưng tôi không bận tâm. Lòng trắc ẩn hay sự kính trọng người đi trước đối với tôi lúc này chỉ là thứ rác rưởi cản trở con đường làm giàu.
Trong góc quán, lão Thắng chột đang tranh cãi nảy lửa với hai tài xế khác về giá cước vận chuyển một lô hàng phụ tùng xe máy và vải vóc ngoại nhập từ biên giới về bến xe Bắc Giang. Lô hàng này nặng tải, đi qua ba trạm gác và phải vượt qua cung đèo tử thần trong đêm tối mịt mùng. Hai gã tài xế kia đòi giá cước trên trời vì sợ nguy hiểm, trong khi chủ hàng thì muốn xuất hàng ngay trước mười hai giờ đêm.
Tôi bước lại gần, chống một tay lên bàn cọc cạch, cắt ngang cuộc thương lượng:
"Để chuyến này cho tôi. Giá cước hạ xuống mười phần trăm so với giá của họ. Đêm nay bốc hàng, sáng mai đúng sáu giờ có mặt ở bến Bắc Giang. Một kiện hàng sứt mẻ, tôi đền gấp đôi."
Hai gã tài xế kia giận dữ đứng bật dậy, chực lao vào tôi:
"Thằng Bính kia! Mày phá giá bến bãi đấy à? Chuyến này mày cướp của bọn tao, mày không để cho anh em sống nữa sao?"
Tôi quay ngoắt đầu lại, trừng mắt nhìn thẳng vào hai gã tài xế. Dưới vành mũ lưỡi trai kéo sụp xuống trán, đôi mắt vàng quắt của tôi găm thẳng vào mắt hai kẻ đối diện. Một luồng uy áp lạnh buốt tỏa ra từ cơ thể tôi khiến hai gã đàn ông lực lưỡng bỗng khựng lại giữa chừng. Bọn họ lúng túng nhìn nhau, sắc mặt hơi biến đổi khi nhận ra sự hung hãn dị thường toát ra từ từng đường nét trên mặt tôi. Cả hai gã lùi lại nửa bước, lầm bầm vài câu chửi thề trong miệng rồi vội vã rời khỏi quán.
Lão Thắng chột đập tay xuống bàn đánh chát một tiếng, khóe miệng toe toét cười để lộ hàm răng ám khói thuốc:
"Được! Quyết định thế đi! Toàn bộ mối hàng đêm nay tao giao đứt cho mày, Bính ạ. Mày có gan ăn to, tao thích cái tính dứt khoát này của mày!"
Thâu tóm được mối hàng độc quyền, tôi lao vào làm việc như một con thú điên cuồng. Ba ngày liên tiếp, tôi chạy ba chuyến đêm ròng rã trên cung đường hiểm trở. Trực giác kỳ lạ trong đầu luôn mách bảo cho tôi biết chính xác đoạn đường nào có đá lở, khúc cua nào có tổ tuần tra đang cắm chốt, và thời điểm nào sương mù dày đặc nhất để tăng ga vượt qua.
Tiền bạc đổ vào túi tôi như nước lũ tràn qua đập. Mỗi chuyến về, túi áo tôi lại căng phồng những cọc tiền xanh đỏ nồng nặc mùi bùn đất và mùi xạ hương ngòn ngọt.
Thế nhưng, đồng tiền càng nhiều thì cơ thể tôi lại càng biến đổi theo chiều hướng kỳ quặc và đáng sợ.
Mỗi khi trời sáng, tôi không thể chịu đựng nổi ánh nắng mặt trời rọi qua khe cửa. Tôi bắt đầu sợ ánh sáng tự nhiên một cách vô lý. Mỗi lần bước ra ngoài trời ban ngày, hai mắt tôi lại xót buốt rực lửa, mồ hôi lạnh vã ra như tắm dọc sống lưng, khiến tôi chỉ muốn chui rúc vào những góc tối tăm ẩm thấp nhất.
Tính khí tôi trở nên cáu bẳn, gắt gỏng vô cớ với vợ con.
Buổi chiều hôm thứ tư, sau khi hoàn thành chuyến hàng từ Đồng Đăng trở về, tôi bước chân vào căn nhà gianh nhỏ ở làng Tân Hợp. Căn nhà cũ kỹ bao năm qua bỗng trở nên ngột ngạt, chật chội đến nghẹt thở. Tôi ngồi phịch xuống phản gỗ, hai tay ôm lấy thái dương đang giật thon thót từng hồi.
Lệ bưng một bát canh rau ngót nấu thịt nạc lại gần, khẽ khàng đặt lên bàn:
"Anh Bính... anh chạy xe suốt ba đêm rồi, ăn chút canh nóng rồi đi nghỉ đi anh. Mặt anh dạo này xanh xao, hốc hác quá... đôi mắt anh sao cứ đỏ hoe rồi vàng vọt thế kia?"
Tôi ngẩng đầu lên, trừng mắt nhìn vợ:
"Tôi làm sao kệ tôi! Tôi chạy xe kiếm tiền nuôi cái nhà này, chứ tôi đi chơi bời đàn điếm đâu mà cô cằn nhằn? Tiền đây, cầm lấy mà lo cho thằng An!"
Tôi giật phắt xấp tiền trong túi quăng mạnh xuống mặt phản. Những tờ bạc năm mươi nghìn đồng văng tung tóe khắp chiếu tre. Lệ giật mình lùi lại, đôi mắt ngấn lệ nhìn tôi đầy kinh ngạc và sợ hãi. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt tám năm trời dường như không còn nhận ra người chồng hiền lành, chất phác từng cắn răng chịu đựng mọi cực khổ ngày nào.
Đúng lúc đó, thằng An từ sau bếp chạy ùa vào, tay cầm ca nước bằng nhôm định mang cho tôi:
"Ba... ba uống nước..."
Thằng bé sơ ý vấp phải ngạch cửa, ngã nhào xuống đất, ca nước văng ra làm ướt sũng một góc chiếu và bắn lên cả ống quần tôi.
Một cơn thịnh nộ mù quáng bùng lên trong lồng ngực tôi. Tôi bật dậy như một cái lò xo, gầm lên một tiếng dữ tợn:
"Mày mù à? Đi đứng kiểu gì thế hả?"
Tôi vung tay tát mạnh một cái vào vai thằng bé. Lực đánh quá mạnh khiến đứa con trai năm tuổi của tôi ngã dúi dụi xuống nền đất, òa khóc nức nở.
"Bính! Anh làm cái gì thế hả?" Lệ hét lên kinh hãi, lao tới ôm chặt lấy thằng bé vào lòng, hai mắt mở to nhìn tôi như nhìn một con quái vật xa lạ. "Nó là con anh đấy! Sao dạo này anh độc ác, hung dữ như quỷ dữ thế này?"
Thằng An rúc đầu vào ngực mẹ, cả thân hình nhỏ bé run lên bần bật, đôi mắt nó nhìn tôi tràn ngập nỗi khiếp sợ tột cùng.
Nhìn bàn tay vừa đánh con, rồi nhìn hai mẹ con đang co rúm ở góc nhà, lồng ngực tôi nghẹn ứ lại. Một cảm giác đau đớn thoáng qua, nhưng ngay sau đó, một sự bực bội vô cớ lại trỗi dậy lấn át tất cả. Tôi không thể chịu nổi ánh mắt của vợ con nữa. Tôi quay ngoắt người, giậm chân thình thịch bước ra khỏi nhà, lao thẳng về phía chiếc xe tải đang đỗ dưới bóng cây râm mát đầu ngõ.
Chỉ có trong buồng lái tối tăm, ngột ngạt của chiếc Giải Phóng, tôi mới tìm thấy sự an toàn.
Tôi ngồi vào ghế lái, đóng chặt cửa kính cabin lại, kéo tấm rèm che nắng màu xanh lục xuống để ngăn toàn bộ ánh sáng mặt trời le lói bên ngoài. Trong bóng tối lờ mờ của buồng lái, hơi thở tôi dần dần ổn định trở lại.
Tôi hiểu rất rõ nguồn gốc của những may mắn, những chuyến hàng trót lọt và cả sự biến đổi ghê rợn này. Đấng cứu tinh vô hình trong cánh rừng thông Lạng Sơn đã ban phát cho tôi tất cả. Muốn giữ được sự giàu sang, muốn nắm giữ vận mệnh trong tay, tôi phải gắn kết chặt chẽ hơn nữa với thứ quyền năng ma quái đó.
Tôi với tay lấy chiếc hộp đồ nghề dưới gầm ghế lái, lôi ra một cây búa nhỏ, mấy chiếc đinh mười phân và vài mảnh ván gỗ tạp nhặt được ở bãi bốc hàng.
Bằng những động tác vụng về nhưng dứt khoát, tôi bắt đầu đo đạc và đóng một chiếc bệ thờ nhỏ ngay trên nóc cabin, ở góc khuất phía trên tấm kính chắn gió bên ghế phụ. Tiếng búa nện vào đinh vang lên lách cách, khô khốc trong không gian chật hẹp của buồng lái.
Chiếc bệ thờ bằng gỗ tạp chỉ rộng chừng một gang tay, được tôi dùng đinh ghim chặt vào khung thép của cabin xe tải.
Sau khi cố định chiếc bệ thờ vững chãi, tôi lục tìm trong ngăn hộc đựng đồ cá nhân. Tôi lấy ra một chiếc đĩa sứ nhỏ màu men ngà, mép đĩa đã bị sứt một mảng lớn. Đây là chiếc đĩa tôi nhặt được từ một ngôi miếu hoang ven đèo trong chuyến chạy hàng đêm hôm trước.
Tôi đặt chiếc đĩa sứ sứt mép lên chính giữa bệ thờ bằng gỗ tạp.
Không có bát hương. Không có chân nhang hay bất kỳ tàn tro nào. Cũng không có bất kỳ bài vị gỗ, bài vị giấy hay chữ Nho nào được khắc lên đó.
Tôi run rẩy thò tay vào túi áo trong cùng, nơi áp sát vào ngực trái của mình. Tôi lôi ra một bọc vải nhỏ màu đỏ điều. Khi mở lớp vải ra, bên trong lộ ra một túm lông thú màu vàng óng ả.
Đó chính là túm lông tôi đã cẩn thận nhặt lại từ chiếc bẫy thú bằng thép hoen gỉ nơi vách đá rừng thông trong đêm đông định mệnh ấy.
Những sợi lông chồn vàng mượt mà, sáng lấp lánh như những sợi tơ tằm thượng hạng, nhưng khi chạm vào lại có cảm giác ráp buốt và lạnh lẽo đến tận xương tủy. Tôi cung kính đặt túm lông vàng ấy vào lòng chiếc đĩa sứ sứt góc.
Hoàng hôn bên ngoài dần dần buông xuống. Bóng tối từ cánh rừng thông Lạng Sơn bắt đầu tràn xuống thung lũng, bao trùm lên toàn bộ con đường tỉnh lộ 4B và nuốt chửng chiếc xe tải của tôi.
Khi ánh sáng cuối cùng của ngày tàn lụi hẳn, một sự biến đổi rùng rợn bắt đầu diễn ra ngay bên trong buồng lái.
Túm lông vàng óng trên chiếc đĩa sứ bỗng nhiên run rẩy nhè nhẹ dù bốn cánh cửa kính đều đóng kín mít, không có một ngọn gió nào lọt vào. Từ những sợi lông thú óng ả, một luồng khói mỏng màu xám tro chầm chậm bốc lên, uốn lượn lờ lững quanh bệ gỗ tạp.
Cùng với luồng khói ấy, một mùi hương kỳ dị bắt đầu tỏa ra, đặc quánh lại trong không khí buồng lái.
Thứ mùi ấy ban đầu thoang thoảng mùi xạ hương thơm ngòn ngọt, nhưng chỉ vài giây sau, nó lập tức biến thành một thứ mùi ngai ngái nồng nặc, thum thủm và tanh tưởi, hệt như mùi thịt sống của một con thú đã bắt đầu ươn thối bị vứt bỏ nhiều ngày dưới nắng hè. Mùi tanh tưởi xộc thẳng vào cánh mũi, bám chặt vào cổ họng, khiến người bình thường nếu ngửi phải chắc chắn sẽ nôn thốc nôn tháo.
Thế nhưng, tôi lại hít lấy hít để thứ mùi vị kinh tởm ấy vào lồng ngực.
Mùi thịt ươn bốc lên từ chiếc đĩa sứ không làm tôi buồn nôn, ngược lại, nó kích thích từng tế bào thần kinh của tôi, đánh thức một cơn đói cồn cào kỳ quái từ sâu thẳm trong dạ dày. Mắt tôi sáng rực lên trong bóng tối đặc quánh của cabin, viền vàng quanh con ngươi nở rộng ra, lấp lánh thứ ánh sáng ma mị của loài thú ăn đêm.
Tôi trèo hẳn lên ghế lái, quỳ hai đầu gối xuống nệm cao su cũ rách. Tôi cúi rạp đầu xuống trước bệ thờ bằng gỗ tạp, hai bàn tay chắp lại trước ngực.
"Hoàng Tiên che chở... Hoàng Tiên dẫn đường..."
Tôi lầm rầm khấn vái, từng lời từng chữ rít qua kẽ răng như tiếng gió luồn qua hang đá.
Bóng tối của rừng thông bên ngoài cửa kính dường như đang áp sát lại gần, dán chặt vào thành xe. Bên tai tôi, tiếng thì thầm vô hình lại văng vẳng cất lên, the thé và hài lòng, trườn dọc sống lưng như một con rắn độc đang siết chặt lấy linh hồn tôi trong khế ước đẫm mùi tanh tưởi.