Hũ Cổ Dưới Nhà Sàn - Chương 11: Chợ Phiên Bản Cạn

Hòa xuống chợ phiên trước khi trời sáng hẳn, mang theo ảnh chụp mã giao dịch và một tờ tiền mới còn vướng mùi lá dâu. Sương mù từ núi Hũ Mẹ tràn xuống…

Nội dung chương

Hòa xuống chợ phiên trước khi trời sáng hẳn, mang theo ảnh chụp mã giao dịch và một tờ tiền mới còn vướng mùi lá dâu.

Sương mù từ núi Hũ Mẹ tràn xuống thung lũng Bản Cạn, dày đến mức đứng cách nhau năm bước chỉ thấy bóng người xám xịt. Con đường đất vào chợ trơn trượt, nhão bùn đỏ. Tiếng vó ngựa hòa với còi xe khách từ bến huyện, làm bầu không khí lạnh ẩm thêm hỗn tạp.

Hòa kéo cao cổ áo khoác gió, tay siết chặt chiếc điện thoại. Màn hình vẫn lưu ảnh tin nhắn biến động số dư tối qua. Dãy ký tự lỗi font và mã giao dịch kết thúc bằng số 1949 như cái dằm trong đầu, khiến cô thức trắng. Bên cạnh điện thoại là tờ tiền hai trăm nghìn mới rút từ ATM hai ngày trước. Dù để riêng trong ví, tờ tiền vẫn ám mùi lá dâu phơi khô và vị chát của nhựa cây bị vò nát.

Chợ phiên Bản Cạn họp ven suối Lưng Đen. Nước suối cạn trơ đá cuội đen, bốc mùi rêu ẩm. Hòa đi chậm khi vào khu bán đồ khô và thảo dược sát vách núi đá vôi. Cô dừng trước sạp bán rễ cây, hạt dổi và mật ong rừng. Chủ sạp là người đàn ông trung niên quấn khăn chàm, ngồi co ro bên bếp than.

Hòa bước tới, giả vờ cúi xuống xem xét mấy gói hạt dổi khô. Cô cất tiếng hỏi, giọng cố giữ vẻ tự nhiên của một du khách tò mò:

- Chú ơi, chú có biết ai ở bản Nặm Lưng tên là Phạm Duy Tín không? Hoặc có ai dưới xuôi lên đây tìm mua đất nhà họ Lưu gần đây không chú?

Người đàn ông đang hơ tay trên lửa bỗng khựng lại. Ông ta ngước mắt nhìn Hòa. Ánh lửa từ bếp than củi soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm quanh khóe mắt ông. Khi ánh mắt ông ta chạm vào gương mặt Hòa, rồi chuyển xuống chiếc áo khoác và dáng vẻ không giống người vùng này, ông ta khẽ nheo mắt lại.

- Nhà họ Lưu? - Người đàn ông lặp lại bằng một giọng tiếng Kinh lơ lớ - Cô hỏi nhà họ Lưu nào? Nhà có cái nhà sàn cũ dưới chân núi Hũ Mẹ à?

- Vâng, đúng là căn nhà đó. Cháu là cháu ngoại bà cụ họ Lưu. - Hòa nói thẳng.

Vừa nghe thấy ba chữ "cháu ngoại bà cụ họ Lưu", thái độ của người bán hàng lập tức thay đổi. Nụ cười xã giao tắt ngấm trên môi ông ta. Ông ta đứng phắt dậy, vội vã dùng chiếc que củi gạt gạt mấy củ khoai nướng trên bếp, rồi bắt đầu thu dọn những gói hạt dổi bày trên tấm bạt dứa dưới đất.

- Không biết. Người bản này không ai tên Tín cả. Đất nhà họ Lưu thì đừng hỏi tôi. Đi chỗ khác mà hỏi. - Ông ta nói nhanh, giọng nhấm nhẳn.

Hòa hơi bất ngờ trước phản ứng đột ngột này. Cô cố vớt vát bằng cách chỉ tay vào một gói quả mắc khén khô:

- Thế cháu mua gói này. Bao nhiêu tiền hả chú?

Người đàn ông không nhìn cô, giật lấy gói quả khô ném vào một chiếc túi ni lông màu đen, giọng cộc lốc:

- Ba mươi nghìn. Đưa tiền nhanh rồi đi cho.

Hòa rút tờ tiền hai trăm nghìn mới cứng trong túi ra đưa. Người đàn ông nhìn thấy tờ tiền phẳng phiu, sạch sẽ thì chân mày nhíu chặt lại. Ông ta không giơ tay nhận ngay mà lùi lại nửa bước, mắt nhìn chằm chằm vào tờ tiền như thể đó là một thứ có độc. Sau một vài giây lưỡng lự, ông ta thò tay vào chiếc túi chàm đeo bên hông, lôi ra một xấp tiền lẻ cũ nát, bẩn thỉu. Ông ta giật lấy tờ tiền của Hòa bằng hai đầu ngón tay, rồi gần như ném những tờ tiền lẻ thối lại vào lòng bàn tay cô. Những tờ tiền giấy mười nghìn, hai mươi nghìn cũ kỹ, nhàu nát đến mức mép giấy đã sờn rách, bám đầy những vết ố màu nâu xám và có mùi mồ hôi dầu nồng nặc.

Hòa cầm xấp tiền lẻ ẩm ráp. Chưa kịp hỏi thêm, người đàn ông đã quay lưng, dọn sạp vào sâu trong bóng vách đá.

Hòa thở dài, bước tiếp đi sâu vào lòng chợ. Càng đi sâu, sương mù càng quện chặt với khói bếp từ các hàng thắng cố và bánh chưng đen, tạo nên một thứ ánh sáng mờ ảo, tù mù. Cô thử hỏi thêm vài người bán hàng lớn tuổi khác dọc lối đi. Nhưng kịch bản cũ cứ lặp đi lặp lại. Ban đầu, khi thấy cô hỏi thăm đường hoặc hỏi mua đồ, họ còn niềm nở. Nhưng chỉ cần cô nhắc đến ba chữ "nhà họ Lưu" hay đưa ảnh mã giao dịch có đuôi 1949, họ đều lập tức im lặng. Người thì lắc đầu quầy quậy bảo không nghe rõ, người thì vội vàng quay đi chỗ khác nói chuyện bằng tiếng bản địa với người bên cạnh, coi cô như một kẻ vô hình. Sự lảng tránh của họ đồng loạt và dứt khoát đến mức đáng sợ. Cái tên nhà họ Lưu và căn nhà sàn cũ kia nằm ngoài những câu mời chào của buổi chợ. Người già nhìn thấy nó thì cụp mắt, cân hàng nhanh hơn, trả tiền thừa bằng tay run.

Hòa đi đến cuối dãy hàng khô, nơi vách đá vôi nhô ra như mái hiên. Một bà cụ già ngồi đơn độc bên mẹt tre nhỏ. Trên mẹt chỉ có vài bó lá khô xanh xám và một rổ kén tằm vàng đã rút hết tơ.

Bà cụ ngước nhìn Hòa bằng đôi mắt đã đục mờ vì cườm nước. Bà không mời chào, cũng không tránh né ánh nhìn của cô. Hòa cúi xuống, nhìn những chiếc kén tằm màu vàng trên mẹt tre. Màu vàng của những chiếc kén này giống hệt sợi tơ cô từng thấy trên miệng hũ gốm dưới gầm bếp nhà họ Lưu. Nó cũng giống màu sợi tơ Tử Sâm tìm thấy trong cổ họng Phạm Duy Tín.

- Bà ơi, đây là kén tằm gì mà vàng thế này ạ? - Hòa hỏi, giọng cô khẽ run lên.

Bà cụ nhìn chằm chằm vào bàn tay Hòa đang cầm xấp tiền lẻ cũ lúc nãy. Rồi bà nhìn sang tờ tiền hai trăm nghìn mới mà Hòa đang kẹp giữa các ngón tay để chuẩn bị cất vào ví. Bà cụ khẽ thở dài, giọng nói của bà trầm và khàn đục như tiếng hai viên đá cọ sát vào nhau:

- Tiền mới đi nhanh hơn chân người. Cô đừng để nó ngủ trong túi áo.

Hòa khựng người lại trước câu nói kỳ lạ của bà cụ. Cô ngồi thụp xuống bên cạnh mẹt tre, cố gắng ghé sát tai để nghe rõ hơn giữa tiếng ồn ào của chợ phiên:

- Bà bảo sao cơ ạ? Tiền mới đi nhanh hơn chân người là thế nào? Bác biết mẹ cháu đã mua hay bán gì ở đây mà phải dùng tiền cũ?

Bà cụ không trả lời thẳng. Bà dùng bàn tay gầy, đen vì nhựa cây, nhặt một nắm lá khô đặt vào giấy báo cũ rồi gói lại. Bà đẩy gói lá về phía Hòa, giọng nhỏ nhưng rõ:

- Cầm lấy cái này. Lá dâu rừng đấy. Đem về đặt ở bếp lò, nếu đêm nghe tiếng nhai dưới gầm sàn thì bỏ thêm vào bếp một nắm. Đừng hỏi nhiều. Người nhà họ Lưu đi đến đâu, mùi tơ theo đến đấy. Cô cầm tiền mới đi khắp chợ thế này, người ta không dám bán đồ cho cô đâu.

- Bà biết mẹ cháu? Bà biết mẹ cháu là Lưu Thuận Lan đúng không? - Hòa dồn dập hỏi, cô vươn tay định giữ lấy tay bà cụ.

Bà cụ rụt tay, giấu vào hai ống tay áo chàm. Bà nhắm mắt, ngoảnh đầu đi. Hòa đứng dậy, cất gói lá dâu khô vào ba lô rồi đi về phía tiệm vàng Khánh Hưng ở rìa chợ, sát bến xe khách.

Tiệm vàng Khánh Hưng là ngôi nhà hai tầng hiếm hoi ở đây, tường vàng loang rêu đen. Phía trước có tủ kính bày vài món bạc và vàng ta kiểu cũ. Bên trong, người đàn ông trung niên mập mạp đang lau khay nhẫn bạc.

Hòa bước vào tiệm. Tiếng chuông gió treo ở cửa vang lên một tiếng "keng" khô khốc. Người đàn ông ngẩng đầu lên, nở một nụ cười chuyên nghiệp của người làm nghề buôn bán:

- Chào cô em. Cô em muốn mua vàng cưới hay đổi bạc xuất cảnh thế? Tiệm nhà tôi có đủ cả, bạc chuẩn chín mươi chín phần trăm, không pha tạp đâu.

Hòa không vòng vo. Cô đi thẳng đến trước tủ kính, rút chiếc điện thoại ra, mở bức ảnh chụp mã giao dịch ngân hàng có dòng chữ *TX-NAMLUNG-1949* đưa sát vào mặt kính cho người đàn ông xem:

- Chào chú. Cháu muốn hỏi chú về mã giao dịch này. Tài khoản của cháu nhận được một khoản tiền chuyển khoản từ một tổ chức tín dụng cũ ở vùng này. Cháu được biết tiệm vàng của chú là nơi giao dịch tài chính lớn nhất quanh vùng Bản Cạn từ trước đến nay. Chú có biết hệ thống nào ở đây còn dùng mã giao dịch có định dạng thế này không?

Người đàn ông tên Khánh nheo mắt nhìn vào màn hình điện thoại của Hòa. Nụ cười trên mặt ông ta nhạt dần khi nhìn thấy dòng chữ "NAMLUNG-1949". Ông ta đứng thẳng người dậy, đẩy chiếc kính cận lên sống mũi, giọng điệu chuyển sang cảnh giác:

- Cái này tôi không biết. Đây là giao dịch ngân hàng, tiệm vàng chúng tôi làm sao quản lý được. Cô em đi tìm chi nhánh ngân hàng dưới huyện mà hỏi. Ở đây chúng tôi chỉ mua bán vàng trao tay thôi.

- Nhưng nguồn tiền này có liên quan đến đất đai của nhà họ Lưu ở bản Nặm Lưng. - Hòa nhấn mạnh từng chữ - Người chuyển tiền cho cháu là Phạm Duy Tín, người vừa mới chết đột tử ở nhà sàn họ Lưu ngày hôm kia. Cháu nghe nói ngày xưa, mọi giao dịch tiền bạc lớn của nhà họ Lưu đều đi qua tiệm vàng Khánh Hưng của chú.

Nghe đến "nhà họ Lưu", mắt ông Khánh co rút lại. Khi Hòa nhắc thêm "Lưu Thuận Lan", tay ông ta run bắn. Khay nhẫn bạc trượt khỏi tay, đập vào tủ kính rồi rơi xuống nền gạch, tạo ra tiếng leng keng hỗn loạn.

Ông Khánh không vội nhặt những chiếc nhẫn rơi. Ông ta nhìn Hòa bằng ánh mắt đầy kinh hoàng, trán ông ta bắt đầu rịn ra những giọt mồ hôi hột dù thời tiết ngoài trời đang rất lạnh.

- Cô... cô là con gái của bà Thuận Lan? - Giọng ông Khánh lạc đi.

- Vâng, cháu là Lưu An Hòa. Mẹ cháu mất rồi. Cháu về đây để giải quyết căn nhà sàn cũ. - Hòa quan sát kỹ từng biểu cảm trên gương mặt người đối diện - Chú biết mẹ cháu đã mua bán gì ở đây đúng không?

Ông Khánh lúng túng cúi xuống nhặt những chiếc nhẫn bạc dưới đất, tay ông ta run rẩy đến mức nhặt trượt mấy lần mới cầm được một chiếc nhẫn lên. Sau khi đã thu dọn hờ xong khay nhẫn, ông ta đứng dậy, thở hổn hển, nhìn quanh quất ra phía cửa tiệm như sợ có ai đó đang rình rập bên ngoài sương mù.

- Cô em... à không, cô Hòa. Cô vào trong này nói chuyện. Đừng đứng ngoài cửa. - Ông Khánh nói nhỏ, hé mở cánh cửa gỗ nhỏ dẫn vào gian phòng phía sau quầy giao dịch.

Hòa bước vào căn phòng sau quầy, nơi nồng mùi trà mạn và két sắt cũ. Ông Khánh rót chén nước chè đặc, tự uống một ngụm lớn để lấy lại bình tĩnh.

- Nhiều năm trước, đúng là mẹ cô - bà Thuận Lan - thường xuyên đến đây giao dịch. - Ông Khánh bắt đầu nói, giọng trầm xuống - Nhưng không phải mua bán vàng bình thường như người ta đâu. Bà ấy đến bán vàng ta, toàn là những thỏi vàng cũ có khắc chữ cổ mà tôi không đọc được. Và điều đặc biệt là, bà ấy tuyệt đối không bao giờ nhận tiền chuyển khoản. Thời đó ngân hàng bắt đầu phổ biến rồi, nhưng bà ấy chỉ yêu cầu nhận tiền mặt cũ.

- Tiền mặt cũ? - Hòa nhíu mày - Tại sao lại phải là tiền cũ?

- Bà ấy bảo tiền mới có "vía" quá sạch, không giữ được nợ. - Ông Khánh lắc đầu, vẻ mặt vẫn chưa hết bàng hoàng - Bà ấy bắt tôi phải gom những tờ tiền giấy cũ, nhàu nát, thậm chí là những tờ tiền đã qua tay nhiều người lao động nghèo khổ ở chợ phiên này để trả cho bà ấy. Tôi làm ăn buôn bán, khách yêu cầu thế nào thì tôi chiều thế ấy. Nhưng mỗi lần giao dịch với bà Thuận Lan xong, tôi đều cảm thấy trong người mệt mỏi kỳ lạ, như thể bị mất sức vậy.

Nói rồi, ông Khánh đi đến chiếc két sắt ở góc phòng. Ông ta mở khóa, lôi ra một chiếc hộp sắt dẹt đã rỉ vỏ.

- Để tôi lục lại sổ sách cũ cho cô xem. Tiệm nhà tôi từ đời ba tôi đã ghi chép rất cẩn thận. Mọi giao dịch của nhà họ Lưu tôi đều lưu lại để đối chiếu thuế má ngày xưa. - Ông Khánh vừa nói vừa lật tìm những tập giấy tờ úa vàng bên trong chiếc hộp sắt.

Do tay vẫn còn run, ông Khánh vô tình kéo mạnh một tập hồ sơ cũ khiến một tập biên lai mỏng, được kẹp riêng bằng một chiếc kẹp tăm rỉ sét rơi ra ngoài. Tập biên lai đó có màu vàng sậm của thời gian, mép giấy đã bị gián gặm loang lổ.

Hòa nhanh mắt nhìn thấy tập biên lai đó. Cô cúi xuống nhặt nó lên trước khi ông Khánh kịp ngăn lại.

Ngay trang đầu tiên của tập biên lai cũ từ năm 1998, đập vào mắt Hòa là một con dấu tròn màu đỏ tươi nằm ở góc dưới cùng bên phải. Con dấu đó không phải là con dấu của tiệm vàng Khánh Hưng, cũng không phải dấu của cơ quan nhà nước. Nó là hình vẽ một chiếc hũ gốm nhỏ, xung quanh có những đường chỉ uốn lượn như những sợi tơ bao quanh.

Phía trên con dấu là nét chữ ký nhận tiền bằng mực đen đã phai màu. Nét chữ thanh mảnh, hơi nghiêng về phía bên phải - nét chữ của mẹ cô, Lưu Thuận Lan.

Hòa nhìn xuống dòng ghi nhận số tiền giao dịch trên biên lai. Số tiền ghi bằng chữ viết tay: *Hai mươi vạn đồng*.

Con số này trùng khớp hoàn toàn với một khoản nợ không ghi tên người gửi, chỉ có ngày tháng ghi nhận vào cuối năm 1998 trong cuốn sổ nợ không chữ mà Hòa tìm thấy dưới gầm bếp nhà sàn.

- Cái này... cái này là cái gì? - Hòa hỏi, ngón tay cô chỉ vào con dấu hình chiếc hũ màu đỏ.

Ông Khánh nhìn thấy tập biên lai trên tay Hòa thì mặt cắt không còn một giọt máu. Ông ta hốt hoảng lao tới, giật phắt tập biên lai khỏi tay cô:

- Cái này không phải! Đây là giấy tờ cũ của ba tôi để lại, không liên quan đến giao dịch của cô!

Trong lúc giằng co, mép biên lai bị rách một đường dài. Vệt mực đỏ trên con dấu hình chiếc hũ đột ngột loang ra khi ngón tay Hòa chạm vào.

Cảm giác mát lạnh và ẩm ướt truyền từ tờ giấy sang đầu ngón tay Hòa. Cô rút tay lại, nhìn xuống lòng bàn tay mình. Một vệt mực đỏ tươi đã dính chặt vào phần thịt mềm dưới ngón tay cái của cô.

Ông Khánh vội vàng nhét tập biên lai rách vào lại trong hộp sắt, rồi đóng sập cửa két sắt lại. Ông ta đứng chắn trước chiếc két, hơi thở dồn dập, nhìn Hòa bằng ánh mắt xua đuổi:

- Cô đi đi. Tôi không biết gì thêm nữa đâu. Giao dịch của nhà họ Lưu từ năm 1998 đã chấm dứt rồi. Mẹ cô trả xong nợ thì cũng đã đi khỏi bản rồi. Đừng mang những thứ đó đến tiệm của tôi nữa. Đi ngay đi!

Thấy chủ tiệm hoảng loạn nhưng kiên quyết, Hòa biết mình không thể khai thác thêm. Cô lùi lại, gật đầu rồi quay ra khỏi tiệm vàng Khánh Hưng.

Tiếng chuông gió ở cửa lại vang lên một tiếng khô khốc khi cô bước ra ngoài. Sương mù ngoài chợ phiên đã loãng đi đôi chút, nhưng cái lạnh buốt của vùng núi đá vôi vẫn như muốn thấm qua lớp áo khoác gió của cô.

Hòa vòng ra sau khu chợ, nơi có vòi nước công cộng dẫn từ suối Lưng Đen. Vòi sắt hoen rỉ, nước chảy rào rào, lạnh ngắt.

Hòa xòe bàn tay phải dưới vòi. Vệt mực đỏ từ con dấu năm 1998 vẫn dính trên da, nổi bật trên làn da trắng vì lạnh. Cô hứng tay dưới dòng nước suối và chà mạnh, cố tẩy sạch nó.

Nhưng dòng nước suối chảy xiết không làm vệt mực phai đi chút nào. Ngược lại, dưới tác động của dòng nước lạnh, vệt mực đỏ không hề loang ra hay trôi đi theo dòng nước. Nó bắt đầu co cụm lại, các nét mực tự động điều chỉnh, định hình lại ngay trên da thịt cô.

Hòa nín thở nhìn chằm chằm vào lòng bàn tay mình.

Vệt mực đỏ dần dần hiện rõ hình dáng một chiếc miệng hũ tròn trịa, xung quanh có những đường viền tinh xảo như những sợi tơ quấn quanh. Chiếc hình vẽ miệng hũ nhỏ bé bằng móng tay này in sâu vào da thịt cô, giống như một dấu nung bằng sắt nóng đã nguội đi nhưng để lại vết sẹo vĩnh viễn. Cô dùng móng tay cào mạnh lên vết mực, chỉ làm da đỏ ửng và đau rát. Hình vẽ miệng hũ vẫn nằm im dưới lớp biểu bì, như đã là một phần cơ thể cô từ rất lâu.

Bên cạnh vòi nước, nước suối Lưng Đen vẫn chảy rì rào qua những kẽ đá đen, mang theo tiếng thì thầm của núi rừng biên giới lạnh lẽo.

Chương khác

Xem thêm