Hũ Cổ Dưới Nhà Sàn - Chương 14: Người Ký Mà Không Nhớ
Trong tờ sao kê tài khoản cũ của mẹ để lại giữa đống giấy tờ lộn xộn ở góc tủ thờ, Lưu An Hòa khoanh một vòng mực đỏ thật đậm quanh cái tên Nguyễn Văn…
Nội dung chương
Trong tờ sao kê tài khoản cũ của mẹ để lại giữa đống giấy tờ lộn xộn ở góc tủ thờ, Lưu An Hòa khoanh một vòng mực đỏ thật đậm quanh cái tên Nguyễn Văn Bân. Khoản tiền ghi bên cạnh tên ông ta là mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng, được thanh toán vào ngày mười bốn tháng Chạp năm 2012. Con số này trùng khớp đến từng đơn vị với dòng chữ số vừa hiển thị trên trang giấy trắng của cuốn sổ không chữ dưới gầm bếp lò nhà sàn.
Mưa từ núi Hũ Mẹ tràn xuống dốc Bản Cạn. Hòa kéo cao cổ áo khoác, giữ chặt túi vải trước ngực, bước trên con đường đất đỏ nhão bùn. Cô bám vào bụi tre gai để rẽ vào khoảng sân nhỏ của ngôi nhà gỗ sát mép vực.
Nhà ông Bân lợp ngói vảy cá xám xịt, tường gỗ đen vì bồ hóng và thời gian. Trên hiên, người đàn ông ngoài sáu mươi đang dùng dao rựa chẻ nan tre đan rổ.
Hòa đứng lại dưới giọt gianh, vuốt nước mưa bám trên trán rồi cất tiếng gọi:
- Bác Bân có nhà không ạ? Cháu là Hòa, con gái mẹ Lan ở nhà sàn họ Lưu dưới bản Nặm Lưng đây.
Lưỡi dao rựa trên tay ông Bân khựng lại giữa chừng. Ông ngước mắt lên, đôi mắt đục mờ sau cặp kính lão gọng nhựa màu đen nhìn Hòa một lượt từ đầu đến chân. Ông đặt thanh tre xuống chiếc ghế băng dài, đứng dậy phủi những dăm tre bám trên ống quần chàm rồi chỉ tay vào bộ bàn ghế gỗ cũ đặt ở góc hiên:
- Con gái cô Lan à? Vào nhà đi, mưa gió thế này đi đường dốc trơn lắm. Mẹ cô mất đột ngột quá, hôm đám tang tôi có việc dưới huyện không về kịp để thắp nén hương.
Hòa bước lên thềm, ngồi xuống ghế gỗ dài và đặt túi vải lên đùi. Gian phòng khách tối, chỉ có một bóng đèn sợi đốt vàng vọt. Sau bàn thờ tổ tiên, tờ lịch cũ đã bạc màu, góc dưới bị gián gặm nham nhở.
- Cháu lên đây là muốn hỏi bác một chuyện liên quan đến việc ngày trước. - Hòa mở lời, giọng cô cố giữ vẻ bình thản của một phóng viên thường xuyên đi lấy tin - Trong sổ sách của mẹ cháu có ghi lại một khoản tiền mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng liên quan đến bác vào cuối năm 2012. Cháu muốn xác nhận lại xem khoản nợ này đã được thanh toán dứt điểm chưa.
Ông Bân vừa rót nước chè từ chiếc ấm ủ trong giỏ giành tích, nghe thấy câu hỏi của Hòa liền dừng lại. Ông đặt mạnh chiếc chén đất nung xuống mặt bàn gỗ, tiếng "cộc" vang lên khô khốc.
- Cô nói cái gì cơ? Tôi nợ tiền nhà cô á? Hay là mẹ cô nợ tiền tôi? - Ông Bân nhíu mày, những nếp nhăn trên trán xô lại vào nhau - Tôi cả đời này chưa từng chung đụng một đồng tiền nợ nần nào với nhà họ Lưu các người. Cô Lan sống thế nào cả bản này biết, nghèo kiết xác ra, lấy đâu ra tiền mà cho tôi vay, mà tôi cũng chẳng có lý do gì phải đi mượn tiền của một người đàn bà góa bủn xỉn như thế.
Hòa không ngạc nhiên trước thái độ phản ứng mạnh mẽ của ông Bân. Cô mở khóa túi kéo, rút điện thoại ra rồi mở bức ảnh chụp lại tờ giấy biên nhận trả nợ mà cô tìm thấy trong chiếc hộp sắt của mẹ. Cô xoay màn hình điện thoại về phía ông Bân, đẩy nhẹ sang:
- Bác nhìn kỹ giúp cháu. Đây là bản chụp giấy biên nhận. Người nhận tiền ký tên Nguyễn Văn Bân, có cả dấu vân tay chỉ đỏ bên cạnh. Ngày ký là ngày mười bốn tháng Chạp năm 2012.
Ông Bân đeo kính lão, cúi sát vào màn hình điện thoại. Ngón tay thô ráp lướt trên mặt kính rồi đột ngột run lên. Ông nhìn chằm chằm vào chữ ký mực xanh đã phai, nhất là dấu ngoéo ở đuôi chữ "B" vòng ngược như móc câu.
- Chữ ký này... đúng là nét chữ của tôi. - Giọng ông Bân chùng xuống, có phần hoang mang - Cả cái dấu vân tay này nữa, sẹo ở ngón tay trỏ bên phải của tôi từ hồi đi rừng bị dao chém vẫn còn vệt khuyết ở đây. Nhưng tôi không nhớ. Tôi hoàn toàn không nhớ mình từng ký tờ giấy này.
- Không nhớ khác với chưa từng xảy ra, bác ạ. - Hòa nói, mắt cô không rời khỏi những biểu cảm thay đổi liên tục trên gương mặt ông Bân - Khoản tiền mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng vào thời điểm năm 2012 không phải là số tiền nhỏ. Bác thử nghĩ lại xem, có khi nào bác bán thứ gì đó cho mẹ cháu, hoặc có giao dịch chung vốn làm ăn gì không?
Ông Bân lắc đầu liên tục, hai tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối:
- Không thể có chuyện đó. Năm 2012 là năm con trai lớn của tôi cưới vợ, nhà tôi túng quẫn thật, nhưng tôi chỉ đi vay họ hàng bên ngoại dưới xuôi. Còn với nhà họ Lưu, tôi chỉ nhớ duy nhất một lần tôi mua lại ba tấm ván gỗ lim cũ khi nhà cô dỡ bớt cái buồng phụ phía tây nhà sàn để làm lối đi. Tôi trả cho mẹ cô hai triệu đồng tiền mặt, việc đó diễn ra từ năm 2010. Ngoài ra, giữa tôi và nhà cô không còn bất kỳ quan hệ tiền bạc nào khác.
Sự quả quyết của ông Bân khiến gian phòng khách trở nên ngột ngạt. Ngoài hiên, nước dột xuống chiếc chậu nhôm, phát ra tiếng "tõm, tõm" đều đặn.
Ông Bân đột ngột đứng dậy, đi về phía cửa buồng trong rồi gọi giật giọng:
- Bà nó ơi! Bà nó ra đây tôi hỏi cái này một tí.
Một người đàn bà nhỏ nhắn, tóc búi cao, áo cánh nâu sồng bước ra. Tay bà dính tro bếp, vội lau vào tạp dề rồi quay sang chồng:
- Có chuyện gì mà ông gọi to thế? Đang dở tay nhóm cái bếp củi dưới nhà dưới.
- Bà nhìn cô này xem có nhận ra ai không? Con gái cô Thuận Lan dưới Nặm Lưng đấy. - Ông Bân chỉ tay về phía Hòa - Cô ấy bảo nhà mình từng nhận mười ba triệu bốn trăm nghìn của nhà cô Lan năm 2012. Bà có nhớ gì về việc này không? Tôi thì tôi chịu chết, không nhớ nổi một chữ nào.
Bà Bân ngẩn người. Bà nhìn khuôn mặt Hòa như tìm một mảnh ký ức bị chôn vùi. Rồi bả vai bà run lên, tay vịn vào mép cửa buồng gỗ:
- Lan... cô Lan trả tiền à? Có phải cái đêm mưa gió cuối năm đó không ông?
Ông Bân quay phắt lại nhìn vợ, giọng gắt lên:
- Đêm nào? Bà nói rõ xem nào! Sao tôi lại không biết gì?
Bà Bân nuốt nước bọt, giọng nhỏ hẳn đi:
- Đêm ấy ông đi uống rượu say bên nhà trưởng bản cũ, tôi ở nhà một mình trông cháu. Nửa đêm trời mưa to lắm, sấm chớp đùng đùng. Cô Lan gõ cửa bên hông nhà. Cô ấy mặc cái áo mưa cánh dơi rách nát, người sũng nước từ đầu đến chân. Cô ấy đưa cho tôi một bọc tiền lẻ bọc trong tờ báo cũ ẩm ướt, bảo là trả nợ cho nhà mình.
- Thế sao bà không bảo tôi? Mà nợ nần gì mà trả lúc nửa đêm nửa hôm thế? - Ông Bân trợn mắt hỏi.
- Tôi có hỏi chứ. - Bà Bân run giọng nói tiếp - Nhưng cô Lan lúc ấy trông lạ lắm. Mặt cô ấy trắng bệch, hai mắt cứ nhìn trừng trừng vào cái hòm gỗ trong buồng. Cô ấy bảo đây là tiền nợ từ đời trước, giờ đến hạn phải trả để cắt duyên nợ. Cô ấy dứt khoát yêu cầu tôi không được đếm tiền ở gian ngoài này, nơi đặt bàn thờ tổ tiên, mà phải mang thẳng vào buồng tối phía trong để nhận. Lúc tôi cầm bọc tiền, tay cô ấy chạm vào tay tôi, nóng như một hòn than nung đỏ chứ không lạnh vì nước mưa. Cô ấy còn bắt ông ký vào một tờ giấy viết sẵn. Lúc đó ông vừa đi uống rượu về, người say mèm, cô ấy dựng ông dậy bắt ký bằng được rồi mới chịu về. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi hỏi ông về bọc tiền thì ông bảo làm gì có bọc tiền nào, ông còn mắng tôi là nằm mơ giữa ban ngày. Tôi vào buồng tìm thì bọc tiền biến mất tiêu, chỉ còn lại tờ giấy biên nhận nằm trong hòm. Từ đấy tôi cũng sợ quá nên không bao giờ nhắc lại nữa.
Ông Bân nghe vợ kể thì mặt xám ngoét. Ông vỗ vào trán mình, lẩm bẩm:
- Có chuyện đấy thật sao? Sao tôi hoàn toàn không có một chút ấn tượng nào? Đêm ấy tôi nhớ mình ngủ một mạch đến sáng cơ mà...
Hòa đứng dậy. Sự lệch lạc trong ký ức của ông Bân không giống chứng hay quên tuổi già. Nó giống một giao kèo đã làm sai lệch nhận thức để che giấu dòng tiền chảy ra từ nhà họ Lưu.
- Bác Bân, tờ giấy biên nhận gốc đó hiện giờ ở đâu ạ? - Hòa hỏi, giọng cô đanh lại - Cháu cần xem bản gốc.
Bà Bân chỉ tay vào gian buồng tối sau vách gỗ:
- Nó vẫn nằm trong cái hòm gỗ đựng giấy tờ đất đai. Ông vào lấy ra cho cô ấy xem. Tôi không dám đụng vào cái hòm ấy nữa đâu.
Ông Bân ngập ngừng một lát rồi bước vào trong buồng. Hòa đi theo sau ông. Gian buồng không có cửa sổ, chỉ có một khe sáng sát mái. Giữa buồng là chiếc hòm gỗ sơn đỏ bong tróc, khóa đồng rỉ sét, phủ bụi dày.
Khi ông Bân cúi xuống, dùng chiếc chìa khóa nhỏ bằng sắt vặn mở ổ khóa cũ, một tiếng "cạch" khô khốc vang lên. Nắp hòm gỗ từ từ mở ra. Một mùi sáp ong nhè nhẹ, ngai ngái bốc lên, xen lẫn mùi giấy mục và mùi ẩm mốc của quần áo cũ lâu ngày không mang ra phơi nắng.
Ông Bân thọc tay vào đáy hòm, lục tìm giữa những tập hóa đơn thuế đất và giấy khai sinh cũ đã ố vàng. Ở góc dưới cùng của hòm, Hòa nhìn thấy một tờ giấy màu vàng xỉn nằm kẹt lại.
- Đây rồi. - Ông Bân lẩm bẩm, tay ông run rẩy kéo tờ giấy ra.
Nhưng tờ giấy không hề di chuyển dễ dàng. Góc dưới bên phải của nó bị một nút chỉ vàng ghim chặt vào đáy hòm. Hòa cúi sát xuống nhìn.
Một sợi chỉ vàng sẫm xuyên qua thớ giấy mục, khâu chặt góc tờ biên nhận vào lớp vải lót đỏ đã mục ở đáy hòm. Nó bám vào thớ gỗ, thắt thành nút nhỏ nhưng chắc như dây đồng.
Mùi sáp ong bốc lên từ tờ giấy mỗi lúc một rõ hơn, nóng hổi và ngột ngạt như mùi của một lò sấy kén tằm giữa trưa hè.
- Sao lại có sợi chỉ ở đây thế này? - Ông Bân lầm bầm, cố sức giật mạnh tờ giấy.
- Bác đừng giật mạnh, để cháu xem. - Hòa ngăn lại. Cô đưa ngón tay chạm nhẹ vào sợi tơ vàng. Một cảm giác mát lạnh chạy dọc từ đầu ngón tay lên đến bả vai cô, khiến cô khẽ rùng mình. Sợi tơ này không phải là chỉ khâu thông thường, nó dai và có độ đàn hồi kỳ lạ.
Hòa nhìn kỹ vào tờ giấy biên nhận gốc. Nội dung tờ giấy được viết bằng thứ mực xanh cửu long đã phai màu, nét chữ của mẹ cô mảnh dẻ nhưng cứng cỏi. Dòng chữ ghi rõ: "Tôi Lưu Thuận Lan có giao số tiền mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng cho ông Nguyễn Văn Bân để hoàn tất nghĩa vụ nợ nần cũ".
- Bác Bân, tại sao một tờ giấy biên nhận trả nợ thông thường lại được cất giữ kỹ thế này? Và tại sao bác lại nói ai nợ nhà họ Lưu cuối cùng cũng phải im miệng? - Hòa ngước lên nhìn thẳng vào mắt ông Bân, câu hỏi của cô sắc như một lưỡi dao.
Gương mặt ông Bân đột ngột co rúm lại. Sự bối rối ban nãy biến mất, thay vào đó là một cơn giận dữ vô cớ bùng phát. Ông trợn mắt, hai cánh mũi phập phồng, quát lên:
- Cô hỏi cái gì mà hỏi lắm thế? Nhà cô có cái nhà sàn quái dị ấy, cả bản này ai mà chẳng biết! Ai dính dáng đến tiền nong của nhà họ Lưu các người thì cuối cùng cũng tự biết đường mà im cái miệng lại nếu còn muốn yên ổn làm ăn, muốn con cái không gặp tai họa! Cô đi mà hỏi mẹ cô ấy, hỏi xem bà ấy đã làm gì để có tiền trả cho cả cái bản này!
Câu nói vừa bật ra, chính ông Bân cũng giật mình. Ông đứng sững, mắt mở to, đưa tay che miệng.
- Bác vừa nói gì cơ? Mẹ cháu đã làm gì? - Hòa bước tới một bước, gặng hỏi.
Nhưng ông Bân không trả lời. Ông quay người đi ra phía gian ngoài, bước đi lảo đảo như người mất hồn. Ông ngồi xuống bàn nước, run rẩy cầm chiếc ấm chè lên để rót nước. Nhưng tay ông run đến mức vòi ấm va vào miệng chén kêu lách cách. Nước chè nóng màu vàng đậm đổ tràn ra mặt bàn gỗ, chảy thành dòng xuống nền đất nện, bốc khói nghi ngút.
Bà Bân đứng ở góc nhà, hai tay ôm chặt lấy ngực, mắt nhìn trừng trừng vào chiếc hòm gỗ vẫn đang mở nắp trong buồng trong. Bà không dám nói thêm một lời nào nữa.
Hòa quay trở lại gian buồng tối. Cô nhìn chăm chằm vào chữ ký của ông Bân trên tờ giấy biên nhận gốc đang nằm ở đáy hòm.
Dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn sợi đốt từ gian ngoài hắt vào, nét mực xanh của chữ ký "Nguyễn Văn Bân" bắt đầu có sự chuyển động kỳ lạ. Những đường nét uốn lượn của chữ ký không còn nằm yên trên mặt giấy nữa. Chúng bắt đầu co rút lại, chất mực xanh từ từ biến đổi, chuyển dần sang màu vàng sẫm của sợi tơ tằm.
Trước mắt Hòa, chữ ký của ông Bân tự uốn cong, nổi hẳn khỏi mặt giấy ố vàng. Nó biến thành một vòng chỉ vàng khép kín, nối điểm đầu và điểm cuối như một chiếc kén tằm nhỏ dẹt.
Hòa nín thở. Cô rút chiếc điện thoại trong túi ra, bật chế độ chụp ảnh và bấm máy liên tiếp ba lần. Ánh đèn flash từ điện thoại lóe lên trong gian buồng tối, chiếu sáng rõ mồn một sợi tơ vàng đang găm chặt góc tờ giấy vào đáy hòm.
Không chần chừ thêm, Hòa đưa tay nắm chặt lấy góc tờ giấy biên nhận, giật mạnh một cái.
Một tiếng "tách" nhỏ, sắc gọn vang lên trong không gian yên ắng của gian buồng, giống như tiếng một sợi dây đàn bị đứt. Sợi tơ vàng đứt đôi, một nửa vẫn găm vào lớp vải lót đáy hòm, nửa còn lại co rúm lại rồi biến mất vào thớ giấy mục trên tay Hòa.
Cô nhanh chóng gấp tờ biên nhận lại, nhét sâu vào trong túi vải thô rồi kéo khóa kín.
Khi Hòa bước ra ngoài hiên nhà, ông Bân vẫn ngồi im lặng bên bàn nước, mắt nhìn trân trân vào vũng nước chè đã nguội lạnh trên mặt bàn. Bà Bân thì đã tránh mặt vào phía bếp dưới, tiếng củi khô nổ lép bép trong lò không làm vơi đi bầu không khí ngột ngạt đang bao trùm ngôi nhà.
- Cháu xin phép hai bác cháu về. - Hòa nói nhỏ.
Ông Bân chỉ khẽ gật đầu, mắt vẫn không rời vũng nước chè.
Hòa bước xuống thềm đá. Con chó mực bị xích dưới gốc bưởi chồm lên dữ dội, mắt nhìn trừng trừng vào chiếc túi vải bên sườn cô. Nó lồng lộn kéo căng sợi xích, như muốn lao vào cắn xé thứ trong túi.
Hòa không ngoái đầu lại. Cô đi nhanh ra khỏi cổng tre, bước vội xuống con dốc trơn trượt của Bản Cạn. Cơn mưa rừng vẫn rả rích rơi, những giọt nước lạnh buốt thấm qua lớp áo khoác ngoài làm vai cô run lên vì lạnh.
Đi được một đoạn, khi nhà ông Bân đã khuất sau bụi tre gai và sương núi đá vôi, Hòa nhìn thấy một quán nước nhỏ lợp lá cọ ở đầu dốc xuống thung lũng Nặm Lưng. Quán nước vắng vẻ, chỉ có một bà cụ già đang ngồi ngủ gật bên bếp củi sưởi ấm.
Hòa rẽ vào quán, chọn một chiếc ghế đòn tre ở góc khuất nhất, gọi một chén nước vối nóng để sưởi ấm đôi bàn tay đang lạnh ngắt. Cô đặt chiếc túi vải lên đùi, mở khóa kéo ra và rút chiếc điện thoại di động.
Màn hình điện thoại sáng lên, hiển thị ba bức ảnh cô vừa chụp trong gian buồng tối nhà ông Bân.
Hòa mở bức ảnh đầu tiên, bức ảnh chụp cận cảnh chiếc hòm gỗ đang mở nắp với tờ biên nhận nằm ở đáy. Dưới ánh đèn flash, sợi tơ vàng hiện lên rõ nét như một sợi gân nhỏ.
Cô dùng hai ngón tay zoom rộng bức ảnh thứ hai, bức ảnh chụp góc rộng hơn, lấy được cả bóng dáng ông Bân đang đứng khom lưng bên cạnh hòm gỗ.
Khi nhìn vào góc tối phía sau vai ông Bân, ngay sát mép vách gỗ của gian buồng, Hòa cảm thấy toàn thân mình đông cứng lại.
Trong khoảng tối nhập nhoạng của bức ảnh, nơi đáng lẽ ra chỉ là những tấm ván gỗ mục nát của vách nhà, xuất hiện một bóng người phụ nữ mờ ảo đứng lẫn trong bóng tối. Khuôn mặt người đó nhòe đi vì thiếu sáng. Nhưng dáng gầy gò và chiếc áo khoác len xám cũ sờn khuỷu tay hoàn toàn trùng với hình dáng mẹ cô - bà Lưu Thuận Lan.
Bàn tay trái của bóng người trong ảnh đưa lên. Những ngón tay gầy che trước miệng ông Bân, như chặn câu nói cuối hoặc giữ một tiếng thở nghẹn trong ngực ông.
Trên cổ tay trái của bóng người mờ ảo đó, chiếc vòng bạc bản dày có hoa văn hình kén tằm phản xạ lại ánh đèn flash của điện thoại, lóe lên một chấm sáng nhỏ màu trắng lạnh lẽo.
Hòa nhìn màn hình đến mỏi mắt. Cô khẽ vuốt ngón tay lên bóng mẹ trong ảnh. Mẹ cô đã chết, nhưng dấu vết bà để lại vẫn bám theo từng bước chân của cô, che kín bí mật dòng họ Lưu bằng tro, tơ vàng và ảnh cũ.
Cô tắt màn hình điện thoại, nhét nó vào túi áo khoác. Bên ngoài, con đường dốc dẫn xuống bản Nặm Lưng bắt đầu bị sương mù từ núi Hũ Mẹ tràn xuống bao phủ, chỉ còn lại một màu trắng xóa, ẩm ướt và lạnh buốt.