Hũ Cổ Dưới Nhà Sàn - Chương 6: Ảnh Thờ Bị Lạnh

Hòa trở lại nhà sàn họ Lưu khi bóng tối đổ xuống thung lũng Nặm Lưng. Vệt cắt trên ngón tay trỏ vẫn âm ỉ nhức, đường chỉ vàng nhạt bám dọc thớ thịt rách…

Nội dung chương

Hòa trở lại nhà sàn họ Lưu khi bóng tối đổ xuống thung lũng Nặm Lưng. Vệt cắt trên ngón tay trỏ vẫn âm ỉ nhức, đường chỉ vàng nhạt bám dọc thớ thịt rách không chịu trôi. Trong túi áo khoác, bản sao hợp đồng đặt cọc của Phạm Duy Tín sột soạt khô khốc. Phần tên người mua đã loang lổ, chỉ còn lại họ Phạm bên những vệt ố vàng nhăn nhúm.

Cánh cửa gỗ nghiến rít lên khi Hòa đẩy vào khấc. Cô cài chốt ngang, dùng cả hai tay đẩy thử để chắc rằng không ai bên ngoài dễ dàng vào được. Nhà bà ngoại đứng biệt lập trên sườn đồi, cách hộ gần nhất gần trăm mét qua một vạt ngô. Sự cô lập ấy từng khiến Hòa dễ chịu. Đêm nay, tiếng gió len qua khe ván chỉ làm căn nhà lạnh hơn.

Hòa bật đèn pin, ngồi xuống ghế băng ở gian giữa và đặt sổ tay lên mặt bàn gỗ bong tróc. Cô buộc mình ghi chép theo trình tự logic để không bị cuốn vào những suy diễn hoang đường quanh cái chết của Phạm Duy Tín.

Cô đặt bút viết nhanh lên trang giấy trắng:

- Ngày 18 tháng 10 năm 2026. - Vật chứng 1: Tờ tiền polyme thu giữ từ hiện trường có dính sợi tơ vàng mảnh, dai, không cháy dưới lửa thường. - Vật chứng 2: Tờ hợp đồng đặt cọc bị mất chữ "Duy Tín", xuất hiện vệt ố vàng nhăn nhúm có hình dạng giống đường đi của côn trùng. - Vật chứng 3: Hũ gốm dưới gầm bếp niêm sáp đỏ, quấn chỉ vàng, khắc bốn chữ "Kim Tàm hoàn chủ". - Vật chứng 4: Các tệp ảnh chụp hũ gốm trong điện thoại bị lỗi định dạng xám xịt, không thể khôi phục. - Vật chứng 5: Phạm Duy Tín tử vong do ngạt thở, bác sĩ pháp y Mạc Tử Sâm phát hiện dị vật dạng tơ vàng trong phế quản.

Hòa dừng bút, chạm vào vết cắt. Cảm giác ngứa đã biến mất, thay bằng cơn buốt chạy lên khuỷu tay mỗi khi cô ấn mạnh. Vệt vàng nhạt nằm im dưới da như một sợi chỉ khâu bị bỏ quên dưới lớp biểu bì.

Hòa cầm đèn pin đi về phía gian thờ tối nhất trong nhà. Vách gỗ dổi ám khói đã đen kịt. Trên bàn thờ sơn son bong tróc, ba khung ảnh thờ đặt lệch nhau dưới những đợt gió lùa qua mái ngói âm dương.

Hòa bước lên bục gỗ, chỉnh lại khung ảnh bà ngoại Lưu Thị Khanh. Bức ảnh đen trắng chụp từ những năm bảy mươi, khi bà còn mặc áo chàm, đầu quấn khăn. Gương mặt trong ảnh vốn sắc sảo với đôi mắt một mí dài và gò má cao. Nhưng khi Hòa đưa đèn pin lại gần, vùng da quanh miệng của bà đã bạc trắng. Lớp nhũ ảnh tróc thành từng mảng nhỏ, bao lấy đôi môi đang mím chặt.

Cô chuyển ánh sáng đèn pin sang khung ảnh bên cạnh của ông ngoại, ông Lưu Văn Bằng. Ông ngoại mất sớm từ trước khi Hòa ra đời, bức ảnh của ông cũng đã mờ căm theo thời gian. Trên mặt kính bảo vệ của khung ảnh ông ngoại, một vệt mờ màu xám chạy xéo qua mắt trái, trông giống như một vết xước sâu trên phim âm bản cũ mà người thợ rọi ảnh ngày xưa không thể xử lý hết.

Cuối cùng, Hòa nhìn vào ảnh mẹ, bà Lưu Thuận Lan. Đây là bức ảnh mới nhất trên bàn thờ, do chính cô phục chế và in ở Hà Nội trước đám tang một tháng. Giấy ảnh vẫn còn mùi hóa chất mới, mặt kính không một vết xước. Vậy mà sát mép cằm của mẹ đã nổi một quầng xám đục. Những chấm đen li ti bám quanh viền cổ áo len màu xám tro.

Hòa cảm thấy ngực mình thắt lại. Cô đưa tay nhấc khung ảnh của bà ngoại xuống khỏi bệ thờ. Khung gỗ xoan đào nặng và thô ráp, những góc nối được đóng bằng đinh tre cũ kỹ đã lỏng lẻo. Cô lật mặt sau của khung ảnh.

Mặt sau được gia cố bằng tấm bìa các-tông nâu, dán vào khung bằng những vệt cơm nguội khô cứng. Trên lớp bìa ngả vàng có nét chữ bút mực xanh đen đã phai. Hòa nhận ra ngay chữ viết tay của mẹ, kiểu chữ nghiêng bà vẫn dùng để ghi sổ chi tiêu ở thành phố.

Dòng chữ viết: "đã trả một phần, đừng nhận phần còn lại".

Dưới dòng chữ là một dấu vân tay bằng sáp đỏ thẫm, đã nứt thành những rãnh nhỏ như mạng nhện. Khi Hòa chạm nhẹ, vài hạt bụi sáp rụng xuống lòng bàn tay. Mùi lá dâu non bị vò nát bốc lên, lấn át cả mùi gỗ mục của gian thờ.

Hòa đặt khung ảnh bà ngoại lên bàn, rút điện thoại gọi cho Lâm, chủ tiệm ảnh ở Hà Nội đã xử lý bức ảnh thờ của mẹ. Tiếng chuông reo trong căn nhà sàn im lặng.

Sau năm lượt chuông, đầu dây bên kia mới có người nhấc máy. Tiếng ồn ào của phố xá Hà Nội vọng vào loa điện thoại khiến Hòa có cảm giác như mình vừa bước qua một ranh giới khác.

- Alo, anh Lâm nghe đây. Ai đấy ạ?

- Tôi là Hòa đây, Lưu An Hòa. Người tháng trước có đặt anh phục chế và in bức ảnh thờ cho mẹ tôi ở Nặm Lưng ấy. Anh nhớ không?

Tiếng ồn bên kia giảm bớt. Giọng Lâm trở nên cởi mở:

- À, chị Hòa phóng viên đúng không? Nhớ chứ, bức ảnh cụ bà mặc áo len xám đúng không? Có vấn đề gì với ảnh hả chị? Tôi nhớ đã dùng loại giấy tốt nhất của Đức rồi mà, mực in cũng là mực chính hãng bảo hành màu mười năm không phai.

Hòa nhìn chằm chằm vào quầng xám đục đang lan rộng trên mép cằm của mẹ cô trong khung ảnh:

- Anh Lâm, ảnh bị loang màu. Ở phần mép cằm và cổ áo xuất hiện những vết mốc màu xám đen, nhũ ảnh quanh đó cũng bị bạc đi. Liệu có khả năng do chất lượng giấy in hoặc mực có vấn đề không?

Đầu dây im lặng một lát, rồi vang lên tiếng bàn phím. Lâm mở lại file gốc.

- Không thể thế được chị Hòa ơi. Tôi đang xem lại file gốc đây. File sạch hoàn toàn, không có tì vết gì. Tôi cũng nhớ hôm đó chính tay tôi đứng máy in, sấy khô bằng máy chuyên dụng rồi mới lồng vào khung kính cho chị. Nhà chị có bị ẩm dột hay để nước mưa hắt vào không?

- Không dột, nhà sàn rất khô ráo. Gian thờ đặt ở nơi cao nhất.

- Thế thì lạ quá. Giấy in ảnh kỹ thuật số bây giờ có lớp màng bảo vệ rất tốt. Trừ khi chị ngâm nó vào cồn hoặc axit pha loãng, ẩm mốc thông thường không thể ăn sâu vào thớ giấy nhanh đến thế. Hay là lúc vận chuyển có ai vô tình làm đổ hóa chất lên khung ảnh mà chị không biết?

- Không có ai chạm vào cả. Từ lúc mang về tôi tự tay treo lên.

- Vậy thì tôi chịu rồi. Nếu chị cần, khi nào về Hà Nội tôi in lại cho chị tấm khác miễn phí. Nhưng tôi cam đoan với chị là không phải do lỗi mực hay giấy đâu nhé. Tiệm tôi làm ăn uy tín bao nhiêu năm nay rồi...

Hòa cúp máy sau khi cảm ơn Lâm. Cô biết mình sẽ không nhận được câu trả lời thỏa đáng từ khía cạnh kỹ thuật. Cô đặt điện thoại xuống bàn, mắt vẫn không rời khỏi di ảnh của mẹ.

Khi cô đứng trước bàn thờ, trên mặt kính khung ảnh mẹ bắt đầu xuất hiện một lớp sương mờ. Hơi nước không bám bên ngoài mà đọng thành giọt li ti ở mặt trong, che khuất một phần gương mặt bà Thuận Lan. Những giọt nước tụ lại rồi chảy xuống như vệt nước mắt dài.

Hòa sờ vào mặt ngoài tấm kính. Nó khô ráo nhưng lạnh buốt như vừa lấy từ ngăn đá. Cô dùng vạt áo lau mạnh, nhưng lớp sương phía trong vẫn nguyên vẹn, ngăn cách cô với gương mặt mẹ.

Tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang cắt ngang sự tập trung của Hòa. Những nhịp chân chậm làm rung ván sàn. Hòa quay lại, vô thức nắm chặt chiếc đèn pin.

Dưới ánh đèn bão, trưởng bản Vàng Seo Lử hiện ra ở đầu cầu thang. Ông mặc áo khoác đại cán cũ, đầu đội mũ lông. Ông dừng ở ngưỡng cửa, hai tay đút túi, mắt nhìn vào khoảng tối của gian thờ.

- Chị Hòa chưa ngủ à? - Giọng ông Lử trầm và khàn, đặc trưng của người vùng cao nói tiếng phổ thông.

Hòa bước ra khỏi gian thờ, đứng ở khoảng giữa nhà sàn để ngăn ông Lử nhìn thẳng vào bàn thờ:

- Có việc gì thế ông Lử? Trời muộn thế này rồi.

Ông Lử rút từ túi áo ra một tờ giấy gấp làm tư, đặt lên bậc thềm sát chân:

- Ủy ban xã gửi giấy hẹn cho chị. Ngày kia mời chị lên văn phòng xã để xác minh lại ranh giới đất đai của nhà họ Lưu. Tiện thể họ muốn hỏi thêm về việc chị muốn bán căn nhà này.

Hòa không nhặt giấy. Cô nhìn ông Lử dưới ánh đèn bão tù mù:

- Việc bán nhà là quyền cá nhân của tôi. Tại sao Ủy ban xã lại phải can thiệp vào việc xác minh ranh giới đất đai vào đúng thời điểm này?

Ông Lử khẽ thở dài, luồng hơi thở của ông tạo thành một làn sương trắng mỏng trong không khí lạnh của căn nhà sàn:

- Đất đai ở bản Nặm Lưng này không giống dưới xuôi đâu chị Hòa. Nhiều khu đất liên quan đến các hộ dân khác từ ngày xưa, giấy tờ cũ từ năm 1949 vẫn còn lưu ở huyện. Xã họ muốn làm cho rõ ràng để tránh tranh chấp sau này thôi.

Hòa tiến lại gần ngưỡng cửa, cô nhìn thẳng vào mắt ông Lử:

- Ông Lử, tôi vừa tháo khung ảnh của bà ngoại tôi xuống. Mặt sau có chữ viết của mẹ tôi. Mẹ tôi viết: "đã trả một phần, đừng nhận phần còn lại". Nếu ông biết mẹ tôi nợ ai, nói thẳng. Tôi không có thời gian nghe lời úp mở.

Gương mặt ông Lử không đổi. Ông đứng yên ở ngưỡng cửa, ánh mắt lướt qua vai Hòa về phía ba khung ảnh thờ:

- Nợ giấy còn tìm được người đòi. Nợ đặt dưới bếp thì cô phải hỏi người từng khóa bếp. Mẹ cô trước khi mất có về đây một chuyến, bà ấy tự tay dọn dẹp gian bếp này rồi mới đi viện tỉnh. Những gì cần trả, bà ấy đã cố trả bằng cách của mình rồi.

- Ý ông là cái hũ gốm dưới bếp? - Hòa gặng hỏi, giọng cô đanh lại - Cái hũ đó chứa cái gì? Tại sao Phạm Duy Tín vừa chạm vào hợp đồng mua nhà của tôi thì lại chết?

Ông Lử không trả lời trực tiếp câu hỏi của Hòa. Ông cúi xuống, dùng ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt sàn gỗ:

- Căn nhà này đã lâu không có hơi người nhóm bếp. Hơi lạnh tích tụ nhiều quá rồi. Tôi khuyên chị nên mang chìa khóa nhà sàn này đem cho bà Then Mẩy giữ ba ngày. Bà ấy biết cách làm cho căn nhà ấm lên. Chị là người thành phố, không quen với cái lạnh của đất này đâu.

- Tôi không cần ai giữ chìa khóa hộ cả - Hòa dứt khoát từ chối - Tôi là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà này. Tôi sẽ tự giải quyết việc của gia đình mình.

Ông Lử nhìn Hòa một lượt từ đầu đến chân, ánh mắt dừng lại ở vết cắt trên ngón tay trỏ của cô đang rướm một vệt vàng nhạt dưới ánh đèn pin. Ông khẽ lắc đầu, giọng nói nhỏ dần nhưng rõ ràng từng chữ:

- Chị cứng đầu giống hệt mẹ chị ngày xưa. Nhưng mẹ chị biết khi nào cần phải cúi đầu trước đất cát. Còn chị thì chưa.

Nói xong, ông Lử quay người xuống cầu thang. Tiếng bước chân nặng nề chìm dần vào bóng tối sân cỏ. Hòa nhìn theo cho đến khi bóng trưởng bản biến mất sau vạt ngô, rồi cúi xuống nhặt tờ giấy hẹn của Ủy ban xã. Tờ giấy lạnh ngắt, thô ráp, có mùi mực in rẻ tiền.

Đêm Nặm Lưng càng về khuya càng lạnh. Tiếng gió núi thổi qua các khe ván sàn nghe như tiếng người thì thầm nói chuyện ở dưới gầm sàn. Hòa mang tờ giấy hẹn vào trong nhà, đóng chặt cửa một lần nữa rồi quay lại gian thờ.

Cô treo khung ảnh bà ngoại trở lại cạnh ảnh ông ngoại. Ba khung ảnh thờ xếp ngang trên bệ gỗ dổi đen bóng. Hòa lùi lại, rút điện thoại chụp toàn cảnh gian thờ để lưu làm chứng cứ.

Tiếng màn trập điện thoại vang lên một tiếng "tách" khô khốc.

Hòa mở thư viện ảnh. Bức ảnh hiện lên khá rõ: bàn thờ gỗ dổi đen, ba khung ảnh nằm thẳng hàng dưới ánh đèn bão yếu ớt.

Thế nhưng, khi Hòa phóng to bức ảnh để kiểm tra các chi tiết phản chiếu trên mặt kính của khung ảnh mẹ cô, cô cảm thấy toàn thân mình cứng đờ.

Mặt kính khung ảnh mẹ phản chiếu rõ Hòa đang cầm điện thoại. Trong phản chiếu, khuôn mặt cô bị biến dạng. Phần môi bạc trắng một mảng nhỏ, lốm đốm những chấm đen giống vết bạc màu trên ảnh bà ngoại.

Hòa lập tức hạ điện thoại xuống, cô chạy nhanh đến chiếc gương soi nhỏ viền nhựa đỏ treo ở cây cột nhà bên cạnh gian thờ. Cô bật đèn pin chiếu thẳng vào mặt mình trong gương.

Trong gương, môi cô vẫn hồng hào. Làn da dưới ánh đèn pin không có đốm đen, chỉ đôi mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một ngày căng thẳng.

Hòa quay lại nhìn bức ảnh trên điện thoại. Bóng phản chiếu của cô trong ảnh vẫn khuyết một mảng lớn ở môi, trông giống như một phần gương mặt cô đang bị xóa bỏ dần bởi một bàn tay vô hình.

Cô tắt điện thoại, tự nhủ đó có thể chỉ là hiện tượng quang học do đèn bão phản chiếu lên mặt kính cong. Cô không được để những ảo giác này làm lung lay tinh thần.

Hòa rút bản sao tờ hợp đồng đặt cọc của Phạm Duy Tín từ trong túi áo ra. Tờ giấy đã lạnh ngắt từ lúc nào. Cô đi đến bàn thờ, đặt tờ hợp đồng lên chiếc đĩa sứ cũ đựng trầu cau khô sát chân đế khung ảnh của mẹ. Cô muốn đối chứng sự biến đổi của nét mực trên giấy với sự biến đổi của bức ảnh thờ.

Ngay khi tờ giấy vừa chạm vào mặt đĩa sứ, một tiếng "rắc" nhỏ vang lên trong không gian yên tĩnh của gian thờ.

Tấm kính trên khung ảnh mẹ nứt một đường mảnh từ góc trên xuống góc dưới. Hơi nước bên trong dày lên, tụ thành giọt lớn chảy qua vết nứt, làm ướt sũng một góc ảnh. Phần giấy ảnh nhũn ra, để lộ lớp bột xám đục dưới lớp nhũ đen trắng.

Hòa giật mình lùi lại. Cô đưa tay lên sờ vào vết nứt trên mặt kính. Tấm kính lạnh đến mức đầu ngón tay cô có cảm giác tê dại như chạm vào băng đá.

Cô nhấc khung ảnh mẹ xuống lần nữa. Khung nhựa giả gỗ nhẹ hơn khung của bà ngoại. Mặt sau vẫn là tấm bìa trắng tinh của tiệm ảnh Hà Nội, không có dấu cơm nguội hay hồ dán cũ.

Thế nhưng, ngay phía dưới nhãn dán của cửa hàng in ảnh, một dòng chữ mới đã xuất hiện.

Dòng chữ không được viết bằng mực. Nó được khắc sâu vào thớ giấy bìa cứng bằng một vật sắc nhọn. Nét khắc mảnh và sâu hoắm, giống vết cào của một chiếc móng tay dài:

"đừng để máu chạm sáp".

Hòa nhìn xuống ngón tay trỏ của mình. Vết cắt do sợi chỉ vàng gây ra lúc sáng bắt đầu rỉ ra một giọt máu đỏ tươi. Giọt máu lăn xuống, mắc lại ở mép ván sàn hở hoác như một hạt đỏ nhỏ, ngay phía trên bóng tối của gian bếp.

Chương khác

Xem thêm