Huyết Đồng Trời Đất - Chương 31: Huyệt động bảy lớp

Mưa đổ xuống mái gianh nhà sàn như có ai đó trút cả một dòng suối từ trên trời xuống. Đã hai mươi mốt giờ đêm ngày thứ mười, mà trời vẫn chưa có dấu hiệu…

Nội dung chương

Mưa đổ xuống mái gianh nhà sàn như có ai đó trút cả một dòng suối từ trên trời xuống. Đã hai mươi mốt giờ đêm ngày thứ mười, mà trời vẫn chưa có dấu hiệu muốn tạnh. Trong gian nhà chính, bếp lửa cháy lách tách, hắt ánh sáng đỏ quạch lên những cột gỗ lim đã bóng mồ hôi người qua bao đời. Mùi khói bếp quyện với mùi gừng nóng và mùi ẩm mốc của chiếu cói cũ, thành một thứ mùi đặc quánh của những ngôi nhà sàn lâu năm trên rẻo cao này.

Trần Văn Khải ngồi xếp bằng trên chiếu, lưng thẳng như một cây cột. Đã ba mươi tám tuổi, mười lăm năm lăn lộn với cầu đường, anh quen ngồi như thế trong mọi cuộc họp hiện trường: thẳng lưng, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng vào người nói. Nhưng đêm nay, trong đôi mắt anh không còn cái nhìn của người chỉ huy nữa. Đó là ánh mắt của kẻ đang chờ nghe một bản án.

Đối diện anh, già Sính tựa lưng vào vách, chiếc áo chàm bạc màu ôm lấy thân hình gầy guộc. Trên cổ ông, con dấu gỗ nhỏ đung đưa theo từng nhịp thở khò khè. Nguyễn Thị Loan ngồi bên trái Khải, cuốn sổ tay đã mở sẵn, cây bút kẹp giữa những ngón tay còn dính bùn chưa kịp rửa. A Páo ngồi nép ở góc bếp, hai tay ôm đầu gối, mắt không rời khỏi khuôn mặt già Sính.

Trên tấm vải thô trải giữa chiếu, chuỗi ngọc bội nằm im. Mười hai viên ngọc trắng ngà và mặt ngọc khắc rồng cuộn bắt ánh lửa, lấp lánh như có nước chảy bên trong. Khải đã mang nó theo từ lán trại lên đây, bọc trong ba lớp túi vải, đặt trong chiếc hộp sắt nhỏ. Già Sính bảo đặt ra giữa chiếu, để "đất nhìn thấy nó đã về gần nhà".

Già Sính nhìn chuỗi ngọc rất lâu. Rồi ông ngẩng lên, đôi mắt đục của người già bỗng trong lại một cách lạ lùng.

- Các cháu muốn nghe, thì phải nghe từ đầu. Từ cái thời chưa có con đèo này, chưa có bản Khe Cạn này.

Ông ho khan một tiếng, A Páo vội rót chén nước gừng đặt vào tay ông. Già Sính nhấp một ngụm, hơi nóng làm gò má ông ửng lên chút ít.

- Bốn trăm năm trước, vào thời các chúa Nguyễn còn giữ đất Thuận Quảng, vùng núi này chưa có đường đi. Cả một dải từ đèo Lũng Mây xuống suối Khe Cạn là rừng thiêng, không ai dám đốn một cây, không ai dám bẫy một con thú. Người ta bảo dưới chân núi có một mạch đất sống. Mạch đất ấy mà yên, thì suối không cạn, ruộng không mất mùa, trẻ con không đau ốm lạ. Mạch đất ấy mà động, thì núi lở, suối độc, người chết không kịp chôn.

Loan khẽ ghi chép, bút lướt nhanh trên giấy. Cô ghi cả những chi tiết mà một kỹ sư địa chất như cô vốn sẽ gạt đi: mạch đất sống, rừng thiêng. Đêm nay, sau những gì đã thấy ở lán trại, cô không gạt đi điều gì nữa.

- Giữ mạch đất ấy là một bà mo. Người Kinh gọi là thầy mo, người Mông chúng tôi gọi là thầy cúng lớn. Bà không chồng không con, sống một mình trong hang đá sau vách núi, ăn cơm lam, uống nước suối, cả đời không bước chân ra khỏi lưu vực con suối này. Mỗi năm vào mùa khô, bà đi một vòng quanh chân núi, rải tro bếp và đọc những câu khấn không ai hiểu. Dân các bản gọi bà là bà cả. Tên thật của bà là gì, đến đời ông cũng không ai còn nhớ. Núi chỉ nhớ hai chữ bà cả.

Khải siết chặt hai bàn tay đặt trên đầu gối. Trong túi áo ngực anh, chiếc khăn tay của Mai nằm im, mềm như một hơi thở cũ. Ba năm trước, cũng trên con đèo này, anh đã ký vào biên bản nghiệm thu gia cố taluy. Một tháng sau, mưa lớn, taluy sập, xe khách bị vùi, Mai nằm trong đó. Anh chưa bao giờ kể điều này với đội. Đêm nay, ngồi trước bếp lửa nhà già Sính, tội lỗi ấy lại trườn lên cổ anh như một con rắn lạnh.

- Bà cả chết vào một mùa mưa như mùa mưa này, - già Sính nói tiếp, giọng ông trầm xuống như đang đọc một bài văn tế. - Trước khi nhắm mắt, bà gọi các già bản lại, dặn đúng một câu: chôn bà trong chính hang đá bà ở, rồi phong ấn lại. Bảy lớp. Thiếu một lớp, mạch đất sẽ thức. Mà mạch đất thức, thì đất sẽ đòi ăn.

Ông giơ bàn tay gầy guộc, xòe từng ngón một. Ánh lửa nhảy múa trên những đốt ngón tay sưng vù vì thấp khớp.

- Lớp thứ nhất: đất nện. Đất sét trộn rơm, nện chặt ba ngày ba đêm, dày một sải tay. Lớp này ngăn nước mưa thấm vào. - Lớp thứ hai: gạch nung. Gạch nung bằng đất sét suối Khe Cạn, xếp khít không lọt đầu kim. Lớp này ngăn rễ cây đâm vào. - Lớp thứ ba: gỗ lim đen. Lim đốn trong rừng thiêng, ngâm bùn ba năm mới đóng thành áo quan, mộng gỗ không một chiếc đinh sắt. Sắt là kim loại của người sống, mang vào mộ sẽ đánh thức đất. - Lớp thứ tư: nước quế phong ấn. Nước suối nấu với vỏ quế rừng, đổ đầy khe đá quanh huyệt. Mùi thơm giữ cho đất không thối, cho tà không lại gần, cho mạch đất ngủ yên. - Lớp thứ năm: bùn đỏ mạch đất. Bùn lấy từ chính lòng mạch, đắp quanh huyệt, để mạch nhận ra người nằm trong là người nhà, không phải kẻ lạ. - Lớp thứ sáu: đá tảng chặn cửa. Một tảng đá nguyên khối lăn từ đỉnh núi xuống, chặn kín cửa động. Không sức người nào lay nổi. - Lớp thứ bảy...

Ông ngừng lại, bàn tay đặt lên con dấu gỗ đeo ở cổ. Ngón tay ông miết nhẹ lên mặt dấu đã mòn nhẵn.

- Lớp thứ bảy: lời thề máu của người giữ mộ. Đời này sang đời khác, người kế tục nhỏ máu lên ấn gỗ, thề trông mộ đến hết đời, không rời khỏi đèo. Ông là đời thứ mười ba. Cha ông truyền cho ông năm ông mười chín tuổi, trong chính gian nhà này, trước bàn thờ tổ.

A Páo khẽ rùng mình. Cậu là người Mông, lớn lên với những câu chuyện về lời thề máu, về những thứ ràng buộc con người với đất đai còn chặt hơn cả dây thừng.

- Dòng họ ông giữ mộ bốn trăm năm, - già Sính nói, mắt nhìn vào ngọn lửa. - Đời nào cũng có người ở lại đèo. Đời nào cũng dặn con cháu một câu: đất này có chủ. Đào thì đào, đừng đào sâu quá thắt lưng núi.

Khải giật mình. Câu nói ấy, già Sính đã nói với anh ngày đầu dựng lán. Lúc ấy anh cho là mê tín của ông già. Bây giờ, từng chữ như một nhát búa gõ vào thái dương anh.

- Thế... thế quan tài dưới chân đèo là sao hả ông? - A Páo hỏi, giọng run run. - Bà cả nằm trong đó mà? Cháu thấy bà... cháu thấy xác bà tay chắp...

Già Sính lắc đầu, chậm rãi như người đang gánh một vật nặng.

- Đêm qua ông đã nói với các cháu rồi. Bà cả không nằm trong quan tài đó một mình.

Ông chống tay đứng dậy, bước khập khiễng đến bên cửa sổ. Ngoài kia, màn mưa đen đặc, chỉ thấy lờ mờ ánh đèn dầu của vài nóc nhà trong bản. Tiếng suối Khe Cạn vọng lên từ dưới thung lũng, ầm ầm như tiếng một con thú đang trở mình.

- Cỗ quan tài các cháu đào được, là quan tài gác cửa. Người xưa đặt bà cả nằm đó, tay chắp, mặt hướng vào núi, để bà canh cửa huyệt từ phía ngoài. Kẻ nào có ý động vào huyệt, phải bước qua mặt bà trước. Huyệt thật nằm sau vách đá, trong động đá tự nhiên, cách cỗ quan tài ba mươi mét về phía đông. Bảy lớp phong ấn, là phong ấn cả một quần thể: quan tài gác cửa ở ngoài, huyệt động ở trong. Trong động là buồng táng thật, nơi mạch đất chảy qua.

Loan ngẩng lên khỏi cuốn sổ, mắt sáng lên:

- Tức là trận sạt lở vừa rồi...

- Sạt lở xé toạc sườn núi, - già Sính quay lại, giọng trầm xuống. - Năm lớp ngoài bị phá. Đất nện trôi mất. Gạch nung vỡ vụn. Gỗ lim nứt một đường dài, các cháu thấy rồi, nước vàng rỉ ra từ khe nứt đó chính là nước quế phong ấn đang chảy ra ngoài. Bùn đỏ mạch đất bị xáo trộn. Đá tảng chặn cửa xê đi, nứt đường vào.

Ông ngồi xuống, hai vai sụp hẳn. Bếp lửa nổ một tiếng tách khô khốc, tia lửa bắn lên.

- Bảy lớp, còn hai. Nước quế phong ấn vẫn rỉ, nghĩa là lớp thứ tư còn thoi thóp, đang chảy máu mà chưa tắt. Và lời thề máu... còn thoi thóp trong cái thân già này.

Khải cúi nhìn chuỗi ngọc trên tấm vải. Ánh lửa phản chiếu trong những viên ngọc trắng, lay động như mắt của một sinh vật đang ngủ mà bị đánh thức. Anh nhớ lại đêm Hậu cạy nắp quan tài, nhớ tiếng "cạch" khô khốc khi nắp tự khép lại, nhớ thi thể Hậu nằm trong bùn với hai tay chắp trước ngực. Cổ họng anh nghẹn lại.

- Ông ơi, - Khải cất tiếng, lần đầu tiên từ đầu buổi tối. Giọng anh khàn đặc. - Thằng Hậu... nó lấy chuỗi ngọc này. Nó chết rồi. Có phải... có phải đất...

Già Sính nhìn anh, cái nhìn của người đã thấy trước câu hỏi từ nhiều ngày trước, từ cái đêm ông nhìn Hậu chằm chằm ở lán trại mà không nói gì.

- Mai ông sẽ nói hết. Đêm nay các cháu ngủ lại đây. Đất đã nhận mặt một người, nó chưa no đâu. Mà các cháu nhớ...

Ông nằm xuống chiếu, kéo tấm chăn chiên đắp ngang ngực. Nhưng trước khi nhắm mắt, ông nói thêm một câu, nhỏ như tiếng gió lọt qua khe vách:

- Nhớ kỹ bảy lớp ấy. Mai ông dạy các cháu đếm. Đếm sai một lớp, là chết thêm một người.

Ngoài hiên, mưa vẫn đổ. Trong gian nhà, ba người trẻ ngồi im quanh bếp lửa đã tàn dần, không ai dám là người đầu tiên đứng dậy đi ngủ.

Chương khác

Xem thêm