Huyết Đồng Trời Đất - Chương 35: Giếng làng hóa vàng

Giếng làng bản Khe Cạn nằm ở đầu bản, dưới một gốc đa cổ thụ mà người ta bảo đã đứng đó từ trước cả khi bản được lập. Giếng sâu, nước trong vắt quanh…

Nội dung chương

Giếng làng bản Khe Cạn nằm ở đầu bản, dưới một gốc đa cổ thụ mà người ta bảo đã đứng đó từ trước cả khi bản được lập. Giếng sâu, nước trong vắt quanh năm, là nguồn nước ăn của cả bản. Sáng nay, nó đã biến thành một thứ khác.

Khi đoàn người của già Sính đến nơi, quanh giếng đã tụ tập gần trăm người. Tiếng la hét, tiếng khóc, tiếng cãi vã hòa thành một mớ hỗn độn. Mùi quế nồng nặc bốc lên từ miệng giếng, ngào ngạt đến mức nhiều người phải bịt mũi.

Trần Văn Khải chen qua đám đông, nhìn xuống giếng. Anh sững người.

Nước giếng không còn trong. Nó có màu vàng óng như mật ong, đặc quánh, và đang sủi bọt. Những bọt khí to bằng đầu ngón tay nổi lên, vỡ ra, lại nổi lên, đều đặn như nhịp thở. Mùi quế bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào mũi, vào mắt, khiến anh cay xè.

- Trời ơi... - A Páo thì thào sau lưng anh. - Giống hệt nước rỉ ở quan tài.

Nguyễn Thị Loan đã quỳ xuống bên thành giếng, mở túi đồ nghề. Cô múc một gáo nước vàng lên, đưa lên mũi ngửi, rồi đổ vào lọ thủy tinh, đậy nắp, dán nhãn. Tay cô làm việc thoăn thoắt như một cái máy, nhưng Khải thấy rõ tay cô đang run.

- Mùi quế chi đậm đặc, - cô nói nhanh, ghi vào sổ. - Màu vàng óng, có bọt khí, nhiệt độ nước cao hơn bình thường. Giống hệt mẫu VC-03 lấy ở quan tài, nhưng nồng độ cao hơn nhiều.

Già Sính được Lò Văn Pừ dìu đến bên giếng. Ông nhìn xuống dòng nước vàng đang sủi bọt, mặt ông xám ngoét.

- Nó xuống đến đây rồi, - ông nói, giọng khàn đặc. - Nhanh hơn ông tưởng. Nước quế phong ấn chảy theo mạch đất xuống đây. Mùi huyệt đi theo nước. Đất đi theo mùi.

Một người đàn bà trung niên chen ra khỏi đám đông, quỳ sụp xuống trước mặt già Sính, khóc nức nở:

- Cụ Sính ơi, cụ cứu con cháu với! Đêm qua, thằng cu Tủa nhà con đang ngủ bỗng ngồi dậy, mắt nhắm nghiền, cứ thế đi thẳng ra cửa, đi về phía đèo! Con gọi thế nào nó cũng không tỉnh! May mà chồng con ôm kịp, không thì...

Đám đông xôn xao. Một người đàn ông khác lên tiếng, giọng run run:

- Con bé Mai nhà tôi cũng thế! Nửa đêm dậy đi, miệng cứ gọi "bà ơi, bà ơi", đi thẳng về phía suối! Tôi tát nó hai cái nó mới tỉnh, mà nó khóc bảo bà gọi nó!

Người đàn bà bế con kể tiếp, giọng lạc đi:

- Lúc nó đi, nó còn... nó còn hát. Hát cái bài hát ru của bà nội nó ngày xưa. Bài gì mà "ai lấy của bà thì đất lấy lại" ấy. Con nghe mà sởn cả gai ốc, cụ ơi!

A Páo đứng chết lặng. Bài hát ru ấy, chính cậu đã hát cho cả đội nghe trong lán trại đêm ngày thứ tám. Bà nội cậu dạy cậu từ thuở nhỏ. Cậu không ngờ có một đêm, chính những đứa trẻ trong bản lại hát nó trong cơn mộng du, đi về phía đèo.

Già Sính nhắm mắt lại, môi mấp máy như đang tính toán điều gì. Rồi ông mở mắt, giọng quả quyết:

- Bài hát ấy là lời nhắc của người xưa. Đất đang nhắc cả bản nhớ luật. Đứa nào hát bài ấy trong mộng, là đứa đã nghe thấy tiếng đất rõ nhất. Từ đêm nay, những đứa trẻ ấy phải ngủ ở đình bản, trước bàn thờ tổ tiên. Không được ngủ ở nhà.

Đám đông lại xôn xao. Một ông già râu bạc bước ra, chống gậy:

- Cụ Sính, giếng làng này tổ tiên để lại, cả bản trông vào nó. Giờ nước hóa vàng thế này, bản uống bằng gì? Ăn bằng gì?

- Uống nước suối thượng nguồn, - già Sính đáp. - Chỗ nước chưa vàng. Ăn thì ăn đồ khô vài ngày. Qua được đêm mai, mọi sự sẽ khác.

Ông nói "qua được đêm mai" với một giọng chắc nịch, nhưng Khải đứng gần nghe ra trong đó có cả một sự cầu nguyện. Đêm mai là đêm thứ ba. Tất cả đều trông vào đêm mai.

Loan đã lấy xong ba lọ mẫu nước giếng. Cô dán nhãn cẩn thận: "Giếng bản Khe Cạn, 10:20 ngày 11". Rồi cô lấy máy đo dã chiến ra, nhúng đầu dò xuống nước. Màn hình hiện số, cô chau mày:

- Độ pH thấp bất thường, nhiệt độ cao hơn nước giếng thường gần ba độ. Và... - cô đưa đầu dò lên mũi ngửi, - mùi lưu huỳnh hữu cơ, giống hệt mẫu bùn M-01 ngày đầu tiên. Anh Khải, nước giếng này không chỉ có quế. Nó có cả bùn mạch đất trong đó.

Khải gật đầu, mặt nặng trĩu. Bùn đỏ mạch đất, lớp phong ấn thứ năm, đã vỡ. Giờ nó đang chảy trong nước giếng của cả bản.

Một thanh niên trong bản bưng một gáo nước vàng lên, định uống thử. Lò Văn Pừ lao tới gạt phắt gáo nước khỏi tay anh ta, nước vàng văng tung tóe xuống đất. Chỗ đất bị nước văng vào bốc lên một làn khói mỏng, mùi quế khét lẹt.

- Đã bảo không được uống! - Lò Văn Pừ quát, giọng lạc đi. - Muốn chết à!

Cả đám đông lùi lại một bước, xa miệng giếng hơn. Nỗi sợ hãi hiện rõ trên từng khuôn mặt.

Già Sính thở dài, rút trong túi áo ra một nắm nhang trầm. Ông châm lửa, cắm ba nén xuống đất trước miệng giếng, rồi lấy một sợi chỉ đỏ buộc quanh thành giếng, miệng lẩm bẩm khấn bằng tiếng Mông. A Páo nghe loáng thoáng, dịch nhỏ cho Khải:

- Ông khấn xin bà cả... đừng trách dân bản. Dân bản không lấy gì của bà.

Khói nhang trầm bay lên, quyện với mùi quế nồng nặc, tạo thành một thứ mùi kỳ lạ, vừa thơm vừa tanh, khiến nhiều người phải quay mặt đi.

- Nhang này chỉ cầm cự được đến tối, - già Sính nói, đứng dậy, đầu gối ông run run. - Tối nay, việc của bản là giữ trẻ con. Việc của ba đứa các cháu...

Ông nhìn Khải, Loan, A Páo, ánh mắt ông dừng lại ở từng người:

- ...là việc khác. Chiều nay ta bàn.

- Nhà tôi cũng vậy! - Thằng bé nhà tôi cũng mộng du!

Tiếng kêu la vang lên khắp nơi. Lò Văn Pừ giơ hai tay lên, cố trấn an:

- Bà con bình tĩnh! Bình tĩnh! Có cụ Sính ở đây rồi!

Già Sính bước lên một bước, giọng ông vang lên, át cả tiếng ồn:

- Im lặng!

Đám đông nín bặt. Ông nhìn khắp lượt, ánh mắt sắc như dao.

- Nghe đây. Đêm qua, trẻ con trong bản mộng du, là do đất gọi. Đất đói, nó gọi trẻ con vì trẻ con nhẹ vía, dễ nghe thấy tiếng đất hơn người lớn. Từ đêm nay, không một đứa trẻ nào được ngủ một mình. Người lớn thay nhau thức canh. Cửa nhà cài then. Nghe rõ chưa?

- Rõ! - đám đông đồng thanh, nhưng giọng đầy sợ hãi.

- Còn nữa, - già Sính nói tiếp. - Giếng này từ giờ không ai được uống. Nước đã nhiễm mùi huyệt. Ai khát thì lên suối thượng nguồn mà lấy, chỗ chưa bị vàng. Trưởng bản, cho người canh giếng, không cho trẻ con lại gần.

Lò Văn Pừ gật đầu lia lịa, quay sang huy động thanh niên. Già Sính kéo ông lại gần, nói nhỏ nhưng Khải đứng cạnh nghe rõ:

- Đêm nay, nếu nghe thấy tiếng gọi tên từ phía suối, cấm trả lời. Nếu thấy trẻ con đi về phía suối, ôm chặt lấy nó, chạy thẳng lên đình bản. Đình có bàn thờ tổ tiên, đất không vào được. Nhớ kỹ.

- Vâng, cụ.

Loan bước đến bên Khải, giơ lọ nước giếng lên:

- Anh Khải, em cần mang mẫu này về phân tích nhanh. Nồng độ quế cao bất thường. Em nghi...

Cô ngừng lại, nhìn quanh đám đông đang hoảng loạn, rồi hạ giọng:

- Em nghi mạch đất đang "thở" mạnh hơn. Như thể... như thể có luồng khí lạ nào đó đang khuấy động nó từ phía huyệt.

Khải gật đầu. Anh hiểu ý cô. Lớp phong ấn thứ sáu đang chảy máu, mạch đất đang mất đi sự kìm kẹp, nó bắt đầu cựa quậy.

Đúng lúc ấy, một tiếng hét thất thanh vang lên từ phía cuối bản. Mọi người quay lại. Một người đàn bà bế một đứa bé trai khoảng năm tuổi chạy như bay đến, mặt cắt không còn giọt máu:

- Cụ Sính! Cụ ơi! Thằng bé nhà con... nó vừa chỉ tay về phía đèo, nó bảo... nó bảo bà gọi nó về ăn cơm!

Đứa bé trong tay mẹ vẫn ngủ say, miệng mấp máy như đang nói mớ. Già Sính bước nhanh đến, đặt tay lên trán đứa bé. Tay ông khựng lại.

- Nóng, - ông nói khẽ. - Nó bị đất chạm vào rồi.

Ông quay sang người mẹ, giọng gấp gáp:

- Bế nó lên đình bản ngay. Đặt nó trước bàn thờ tổ tiên, thắp ba nén nhang, khấn tổ tiên che chở. Nhanh!

Người đàn bà ôm con chạy đi. Đám đông dạt ra nhường đường, nhiều người lẩm bẩm khấn vái.

Khải đứng nhìn theo, lòng nặng trĩu. Mới sáng hôm qua, họ còn là đội công nhân thông đường, lo chuyện máy xúc, tiến độ. Hôm nay, họ đang đứng giữa một bản làng hoảng loạn, đối mặt với thứ mà khoa học của Loan cũng chỉ ghi lại được chứ không giải thích được.

- Anh Khải, - Loan khẽ nói, - em vừa nhớ ra một điều. Điều thứ năm của luật: lời nguyền chỉ đi qua đất và nước trong lưu vực. Giếng làng nối với mạch ngầm, suối Khe Cạn nối với mạch đất. Trẻ con mộng du đi về phía đèo... là chúng nghe thấy tiếng gọi từ mạch đất.

- Tiếng gọi của ai? - A Páo hỏi, giọng run run.

Loan và Khải cùng nhìn về phía già Sính. Ông đang đứng bên giếng, nhìn xuống dòng nước vàng sủi bọt, lưng còng xuống.

- Của bà cả, - Khải nói khẽ. - Hoặc của chính mạch đất đang đói.

Trên miệng giếng, bọt khí vẫn nổi lên, vỡ ra, đều đặn. Mùi quế vẫn nồng nặc. Và từ dưới thung lũng, tiếng suối Khe Cạn vọng lên ầm ầm, như đang gọi tên từng đứa trẻ trong bản, từng tiếng một, không ngừng nghỉ.

Chương khác

Xem thêm