Huyết Đồng Trời Đất - Chương 43: Lời từ biệt chưa nói
Chiều ngày 13, Khải xé một trang trong cuốn nhật ký công trình. Anh đã đắn đo rất lâu mới làm việc đó. Cuốn nhật ký này theo anh tám năm, qua bao công…
Nội dung chương
Chiều ngày 13, Khải xé một trang trong cuốn nhật ký công trình.
Anh đã đắn đo rất lâu mới làm việc đó. Cuốn nhật ký này theo anh tám năm, qua bao công trình, chưa bao giờ anh xé một trang nào. Nhưng hôm nay anh cần một tờ giấy sạch, không dính mùi dầu máy, không có những con số tiến độ. Loan dặn anh viết thư. Anh sẽ viết.
Anh ngồi xuống thùng đạn kê làm bàn, chấm bút chì, và nhìn trang giấy trắng rất lâu.
Viết gì đây? Ba mươi tám năm làm người, anh chưa bao giờ viết một lá thư từ biệt. Báo cáo công trình thì anh viết như máy, nhưng thư cho người sống thì khác. Mỗi chữ đặt xuống đều như một nhát cuốc đào vào đất thịt. Anh viết rồi gạch, gạch rồi viết lại, đến khi trang giấy nhăn nhúm mới thôi. Cuối cùng anh hít một hơi, viết một mạch, không dừng lại nữa. Chữ anh vốn ngay ngắn của dân kỹ thuật, hôm nay nghiêng ngả như người say.
"Loan, và anh em đội máy xúc thân mến,
Khi mọi người đọc thư này, lễ phong ấn chắc đã xong. Tôi không viết để dặn dò công việc, vì công việc từ nay không còn liên quan đến tôi nữa. Tôi viết để nhờ ba việc.
Việc thứ nhất, về gia đình anh Hậu. Vợ anh ấy ở quê một mình nuôi con, thằng bé còn đang chờ tiền mổ tim. Tôi đã hứa với anh Hậu từ hôm nó còn sống là lo cho thằng bé, nhưng tôi chưa làm được. Giờ tôi nhờ mọi người làm thay. Tiền lương tháng này của tôi còn nguyên trong tài khoản, mật khẩu tôi ghi ở mặt sau thư. Mọi người rút ra, gửi về cho vợ anh Hậu, nói là tiền công trình hỗ trợ. Đừng nói là tiền của tôi. Cô ấy không nhận đâu.
Việc thứ hai, về chiếc khăn tay trong phong thư này. Đó là khăn của vợ tôi, cô ấy dúi vào túi áo tôi ngày cưới, dặn đi đâu cũng mang theo như mang cô ấy theo. Tôi đã mang nó ba năm nay. Giờ tôi ở lại đèo, không cần mang nữa, vì tôi đã ở cạnh cô ấy rồi. Nhờ Loan, khi đường thông, mang khăn về quê ngoại của Mai, thắp cho cô ấy một nén nhang, đặt khăn lên bàn thờ. Nói với cô ấy: anh Khải ở lại giữ đèo, không đi đâu nữa. Cô ấy sẽ hiểu.
Việc thứ ba, về thằng Páo. Nó còn trẻ, nó đã suýt chết một lần vì đi theo tôi. Mọi người đừng để nó quay lại đèo một mình. Nó mà đòi ở lại với tôi thì cứ đánh cho nó tỉnh. Một người là đủ.
Cuối cùng, đừng ai thương hại tôi. Tôi không hy sinh. Tôi chỉ về nhà. Nhà tôi ở đây, có vợ tôi, có anh Hậu, từ nay còn có cả con đèo này. Mọi người về xuôi, sống cho tốt, thỉnh thoảng nhớ đến tôi là được.
Trần Văn Khải Chiều ngày 13, lán trại chân đèo Lũng Mây"
Viết xong, Khải ngồi lặng rất lâu. Rồi anh thò tay vào túi áo ngực, lấy ra một vật gói trong túi ni lông nhỏ, đã ngả màu theo năm tháng.
Chiếc khăn tay.
Vải trắng đã cháo lòng, thêu một cành mai nhỏ ở góc, đường thêu đã sờn. Ba năm nay, nó nằm trong túi áo anh, qua mưa qua nắng, qua bao công trình. Mỗi lần tay anh chạm vào nó trong túi, anh lại nhớ câu Mai nói hôm tiễn anh đi công trình xa: "Anh giữ cho kỹ, đi đâu cũng mang theo, như mang em theo."
Anh nhớ ngày cưới, Mai tự tay thêu cành mai này suốt ba đêm, mắt thâm quầng mà miệng vẫn cười: "Thêu mai cho anh, để anh đi đâu cũng nhớ mùa xuân ở nhà." Đêm tân hôn, cô dúi khăn vào túi áo anh, bảo: "Từ nay cái túi áo này có hai người." Ba năm sau ngày cô mất, cái túi áo vẫn có hai người. Chỉ là một người không bao giờ trả lời nữa.
Anh áp chiếc khăn lên mặt. Vải đã mất hết mùi thơm ngày cũ, chỉ còn mùi mồ hôi và mùi đất của anh. Nhưng trong một thoáng, anh tưởng như ngửi thấy mùi bồ kết trên tóc Mai, nghe thấy tiếng cô cười trong bếp.
- Mai ơi. - Anh thì thầm. - Anh trả em về quê nhé. Em ở đây với anh ba năm lạnh lẽo rồi. Về quê cho ấm. Còn anh, anh ở lại trông đèo. Đèo này nợ em một lời xin lỗi, anh ở đây đòi cho em.
Anh gấp chiếc khăn ngay ngắn, đặt vào giữa tờ thư, gấp lại thành một phong thư dày. Mặt sau, anh ghi mật khẩu tài khoản như đã hứa.
A Páo từ ngoài bước vào, thấy anh đang gấp thư thì khựng lại. Cậu nhìn phong thư, nhìn chiếc khăn tay thấp thoáng, rồi bỗng hiểu ra tất cả. Nước mắt cậu trào ra, không kìm được.
- Anh Khải... anh viết thư từ biệt à?
Khải không trả lời. Anh đưa phong thư cho cậu.
- Cất giùm anh. Tối nay cô Loan lên đèo, mày trao cho cô ấy. Tay mày đừng run, run là cô ấy khóc.
A Páo đón lấy phong thư bằng hai tay, như đón một vật thiêng. Rồi cậu bỗng quỳ sụp xuống trước mặt Khải, ôm lấy chân anh, khóc nức nở:
- Anh cho em ở lại với anh! Em không về đâu! Hai anh em mình ở đây, có nhau, đỡ buồn! Anh một mình... anh một mình anh chịu sao nổi!
Khải đỡ cậu dậy, hai tay giữ chặt vai cậu em, nhìn thẳng vào mắt cậu.
- Páo. Nghe anh nói. Lễ này chỉ cần một người thề. Một người là đủ. Thêm một người, không phải thêm sức, mà là thêm một cái miệng ăn, thêm một nỗi lo cho đất. Mày ở lại, mày không giúp anh, mày làm khổ anh.
- Nhưng...
- Không nhưng. - Giọng Khải cứng lại, rồi mềm ra. - Mày còn trẻ, mày còn cả đời. Mày phải sống. Sống thay phần anh nữa. Anh ở đây giữ đèo, mày ở ngoài giữ đời. Hai anh em mình, mỗi người giữ một đầu. Như thế mới công bằng.
A Páo gạt nước mắt, gật đầu, rồi lại lắc đầu, rồi lại gật. Cậu ôm chặt phong thư vào ngực.
- Em hứa. Em không quay lại một mình. Nhưng... nhưng mỗi năm giỗ chị Mai, em lên thắp nhang cho chị, anh cho không?
Khải mỉm cười, nụ cười đầu tiên thật sự trong nhiều ngày.
- Cho. Nhưng phải báo trước cho anh qua... - Anh ngừng lại, chợt nhận ra từ nay không còn bộ đàm chung nữa. - Thôi, mày cứ lên. Anh ở đây, mày lên là anh biết.
Hoàng hôn buông xuống rất nhanh trên đèo. Mặt trời lặn sau đỉnh núi, để lại một vệt đỏ như máu loang trên mây. Khải và A Páo ngồi trước lán, nhìn về phía bản Khe Cạn mù sương. Ở đó, trong nhà sàn, già Sính đang thiếp đi, tay vẫn nắm chặt ấn gỗ. Ở đó, Loan đang chuẩn bị đồ lễ, chuẩn bị mang ấn gỗ lên đèo. Còn chuỗi ngọc thì đang nằm trong ba lô của chính anh, bọc trong vải tẩm nước quế, nặng như một lời buộc tội chưa được thốt ra.
- Anh Khải. - A Páo bỗng nói. - Tối nay vào động... anh sợ không?
Khải im lặng một lúc. Rồi anh đáp, giọng đều đều:
- Sợ. Nhưng có những việc, sợ vẫn phải làm. Như hôm mày suýt bị bùn kéo, anh cũng sợ, nhưng anh vẫn lao xuống. Sợ không phải để chạy. Sợ là để biết mình đang làm việc lớn.
Gió chiều thổi qua, mang theo mùi quế thoang thoảng từ phía hố đào. Dòng nước quế rỉ ra từ khe nắp quan tài giờ đã ngừng hẳn, chỉ còn một vệt óng ánh khô dần dưới ánh hoàng hôn. Khải nhìn vệt nước đó, lòng chợt thắt lại. Máu của huyệt đã cạn. Chỉ còn chờ đêm nay.
Anh đứng dậy, vỗ vai A Páo:
- Đi. Mình kiểm tra lại đá tảng lần cuối. Đêm nay, không được sai một ly.
Hai người ra cửa động. Tảng đá lớn vẫn nằm im trên giá kê, chèn gỗ chắc chắn, kích thủy lực đã vào vị trí. Khải quỳ xuống, tự tay kiểm tra từng miếng chèn, từng con ốc kích, rồi chỉ cho A Páo:
- Nhớ kỹ. Đêm nay khi anh hô, mày nhả kích bên trái trước, giữ bên phải. Đá lăn theo rãnh này, đúng vào miệng động. Nếu nó lệch, mày hô to, anh dùng đòn bẩy chỉnh. Đừng bao giờ đứng trước mặt đá. Nhớ chưa?
- Nhớ rồi anh.
- Nhắc lại.
A Páo nhắc lại vanh vách, giọng run nhưng rõ. Khải gật đầu, đứng dậy, phủi đất trên đầu gối. Từ khe cửa động, hơi lạnh phả ra mang theo mùi quế, và sâu trong bóng tối, anh tưởng như nghe thấy một tiếng thở dài rất khẽ, như đất đang trở mình trong giấc ngủ chập chờn.
- Về thôi. Ăn nốt gói mì cuối, rồi chuẩn bị.
Hai bóng người một cao một thấp bước về phía lán, đổ dài trên sân lán ướt sũng. Trong túi áo ngực A Páo, phong thư từ biệt nằm im, nặng như một lời hứa.