Huyết Lễ Nghĩa Địa - Chương 8: Mỹ Trang Gặp Oán Hồn Trong Mộng
Ánh lửa đỏ quạch từ những ngọn đuốc tẩm dầu hỏa rọi qua khe ván gỗ, hắt lên nền đất am cốc những bóng dài nhảy múa điên cuồng. Mùi dầu khét lẹt xộc vào…
Nội dung chương
Ánh lửa đỏ quạch từ những ngọn đuốc tẩm dầu hỏa rọi qua khe ván gỗ, hắt lên nền đất am cốc những bóng dài nhảy múa điên cuồng.
Mùi dầu khét lẹt xộc vào mũi, át đi mùi khói bách xù thanh tịnh tôi vừa xông lúc nãy. Sau lưng tôi, Mỹ Trang run bắn lên từng chập. Bàn tay nhỏ thó của con bé bấu chặt lấy vạt áo nâu sồm của tôi, móng tay cắm sâu qua lớp vải thô ráp đến mức các đầu ngón tay trắng bệch ra không còn giọt máu. Con bé dán chặt lưng vào vách nứa, cổ họng phát ra từng tiếng thở khò khè đứt quãng, đôi mắt mở to trân trân nhìn về phía cánh cửa gỗ cài then mỏng manh.
- Cụ Sửu... Cụ dẫn người đến thật rồi... - Mỹ Trang lẩm bẩm trong miệng, hàm răng va vào nhau lập cập - Họ sẽ mổ bụng con... Họ mang dao quắm theo rồi...
Tôi quay người lại, đặt bàn tay khô gầy lên đỉnh đầu con bé. Một luồng hơi ấm từ huyệt Bách Hội truyền xuống giúp các khớp xương đang căng cứng của cô gái trẻ dần thả lỏng. Tôi trầm giọng, từng tiếng vang lên đanh gọn:
- Định tâm lại. Con đã bước qua ngưỡng cửa này thì không ai có quyền kéo con đi khi bần tăng chưa cho phép. Ngồi yên cạnh bàn thờ Phật, nhắm mắt niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Dù bên ngoài có tiếng gào thét hay tiếng sấm sét cũng tuyệt đối không được bước chân ra khỏi vòng hào quang ngọn đèn bơ.
Mỹ Trang run rẩy gật đầu lia lịa. Con bé thu mình lại thành một khối nhỏ thó sau bệ thờ bằng đá, hai tay ôm ghì lấy dải vải liệm rách nát thấm máu khô mà nó vừa nhặt được ngoài bãi tha ma.
Bên ngoài, tiếng bước chân đạp sầm sập trên nền tuyết đóng băng ngày một dồn dập. Tiếng kim loại va chạm leng keng, tiếng rễ cây khô bị dẫm gãy giòn tan rợn người. Có ít nhất bảy, tám gã đàn ông lực lưỡng đang bao vây toàn bộ khu đất trống phía trước am thiền.
"Rầm! Rầm!"
Hai tiếng đập mạnh như búa bổ giáng thẳng vào cánh cửa liếp. Lớp băng tuyết đóng bám bên ngoài mép cửa vỡ vụn, rơi lả tả xuống bậu cửa phát ra tiếng lạo xạo.
- Thầy Thubten! Mở cửa ra! - Tiếng một người đàn ông trung niên the thé cất lên qua khe ván - Chúng tôi biết con ranh Mỹ Trang đang trốn trong này! Mau giao nó ra đây để dân bản trừ họa!
- Đừng nhiều lời với lão già tu hú đó! Phá cửa xông vào lôi nó ra! - Một giọng nói trẻ hơn, đục ngầu sát khí gầm lên - Chậm một khắc nữa là bầy quỷ ngoài bãi tha ma tràn vào làng xé xác hết cả họ nhà ta đấy!
Tôi không vội vàng. Tay phải tôi thọc vào bọc áo, ngón tay lần qua từng hạt gỗ tử đàn mát lạnh trên chuỗi tràng 108 hạt. Mỗi hạt gỗ trượt qua đầu ngón tay là một câu chân ngôn trầm hùng vang lên trong tâm thức. Tôi bước từng bước vững chãi về phía cửa, đưa tay nhấc chiếc then cài bằng gỗ nghiến thô mộc.
Cánh cửa mở toang ra hai bên.
Một luồng gió đông buốt giá tạt thẳng vào mặt, mang theo những bông tuyết sắc như dăm thủy tinh và mùi khét nồng nặc của dầu hỏa. Trước mặt tôi, trên khoảnh sân đất phủ đầy tuyết trắng xóa, tám người đàn ông Bản Lường đứng dàn thành nửa vòng tròn. Trên tay họ, những ngọn đuốc quấn bằng giẻ rách tẩm dầu cháy bùng bùng, khói đen cuộn xoáy lên nền trời đêm mù mịt. Người cầm dao quắm sáng loáng, kẻ lăm lăm gậy gỗ bịt sắt, gương mặt ai nấy đều hằn rõ sự hung tợn xen lẫn nỗi sợ hãi tột cùng đang đè nặng trong ánh mắt.
Đứng ở vị trí trung tâm, cách tôi chừng năm bước chân, là một ông lão râu tóc bạc phơ khoác chiếc áo bông chần đã sờn rách viền cổ. Đó chính là Trần Văn Sửu, trưởng làng Bản Lường, kẻ đứng đầu dòng họ Trần suốt mấy mươi năm qua ở vùng biên ải này.
Lão Sửu trạc ngoài bảy mươi tuổi, vóc người quắc thước, hai gò má nhô cao trơ khấc dưới làn da đồi mồi xám ngoét. Đôi mắt lão hõm sâu, vằn lên những tia máu đỏ lòm vì mất ngủ và hoảng loạn. Lão chống một cây gậy bằng gỗ mun chạm đầu hổ, tay kia cầm một ngọn đuốc lớn đang cháy rừng rực. Nhìn thấy tôi bước ra với tấm áo cà sa nâu sồm vàng đã bạc phếch theo năm tháng, lão Sửu nheo mắt lại, chòm râu dê rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập.
- A Di Đà Phật. Đêm hôm bão tuyết mịt mù, trưởng làng và bà con không ở nhà sưởi ấm, lại mang binh khí kéo lên chốn thanh tịnh này làm gì? - Tôi cất giọng, âm sắc bình thản vang vọng giữa màn đêm lạnh buốt, lấn át cả tiếng gió rít qua những cành thông cổ thụ.
Lão Sửu bước lên một bước, mũi giày vải nện mạnh xuống mặt tuyết khiến một mảng băng rạn nứt:
- Thầy Lodrö! Chúng tôi kính thầy là bậc tu hành khổ hạnh nên mới để thầy yên ổn lập am trên mảnh đất này bấy lâu nay. Nhưng việc đêm nay là chuyện sống chết của cả Bản Lường! Con ranh Mỹ Trang đã động vào đồ cấm ở bãi tha ma, rước oán khí về làm kinh động mười chín ngôi mộ vô danh. Mau giao nó cho chúng tôi dẫn về làm lễ tạ tội với người khuất mặt, bằng không đừng trách đám trai bản vô lễ với người tu hành!
Một gã trai làng mặt vuông chữ điền, tay cầm con dao quắm dài cán tra vào chuôi gỗ, bước xấn tới hùa theo:
- Phải đấy! Cụ Sửu nói đúng! Con ranh ấy là đứa mang điềm gở từ nhỏ. Nó dám ra bãi tha ma bới xương moi cốt người chết, làm rỉ máu đen đầy miệng huyệt. Chiều nay trâu bò trong chuồng nhà tôi tự nhiên lăn đùng ra hộc máu đen mà chết sạch! Không trói nó đem ra trước bia đá tế lễ thì đêm nay cả làng tuyệt tự!
Những kẻ còn lại lập tức phụ họa, tiếng gậy gộc gõ xuống tuyết dồn dập tạo nên những âm thanh chát chúa. Bọn họ tiến lại gần thêm một bước, ánh đuốc hắt lên những lưỡi dao sáng loáng phản chiếu cái lạnh thấu xương của núi rừng mùa đông.
Tôi vẫn đứng sừng sững ngay giữa ngưỡng cửa am cốc, hai chân trụ vững như cội thông già cắm rễ vào vách đá. Đôi mắt tôi quét qua từng khuôn mặt đang méo mó vì sợ hãi và cuồng nộ kia, rồi dừng lại trên gương mặt của lão Sửu.
- Trưởng làng Sửu - Tôi cất tiếng, ngữ điệu chầm chậm nhưng nặng tựa ngàn cân - Tế lễ tạ tội, hay là đem máu thịt của đứa cháu nội mồ côi ra để che đậy cái tội ác ăn thịt người bốn mươi năm trước?
Câu nói của tôi rơi tõm vào không gian tĩnh mịch tựa như một tảng đá ngàn cân ném thẳng xuống mặt hồ đóng băng.
Toàn bộ đám trai làng bỗng khựng lại. Tiếng gậy gộc, tiếng quát tháo lập tức im bặt. Những khuôn mặt hung hãn lúc nãy chợt biến đổi thành những nét mặt bàng hoàng, ngơ ngác nhìn nhau. Đám thanh niên này phần lớn sinh ra sau những năm tháng chiến tranh biên giới loạn lạc, bọn họ chỉ nghe phong phanh những lời đồn ma quái về bãi tha ma chứ chưa từng biết tường tận nguồn cơn thực sự phía sau hai mươi nấm mồ hoang phế.
Sắc mặt lão Sửu trong nháy mắt chuyển từ đỏ gắt sang trắng bệch như xác chết trôi sông. Bàn tay cầm gậy mun của lão run lên bần bật, các khớp ngón tay co quắp lại:
- Thầy... Thầy nói càn cái gì đó? Đừng có ngậm máu phun người! Năm đó là nạn đói do giặc giã biên giới tràn qua cướp phá, người chết vì rét mướt bệnh tật chất đống, chúng tôi chôn cất họ tử tế... Ai ăn thịt ai chứ?
- Chôn cất tử tế? - Tôi bật ra một tiếng cười nhạt, ánh mắt khóa chặt lấy đôi đồng tử đang giãn to vì sợ hãi của lão - Mảnh vải liệm quấn quanh khúc xương sườn người vẫn còn hằn rõ vết răng cắn xé của hàm răng người sống, hiện đang đặt ngay trên bàn thờ Phật sau lưng tôi đây. Các người trói Lý Thị Hoài vào cột miếu, rạch bụng moi ruột chia nhau từng miếng thịt để sống sót qua mùa đông đói khát năm ấy. Hai mươi con người bị các người chém giết, phanh thây thành từng mảnh rồi vứt xác vào hố tuyết, lấy đá dằn lên miệng huyệt hòng bịt miệng cõi âm. Lời tôi nói có sai nửa chữ nào không, Trần Văn Sửu?
- Im mồm! Lão già điên này im mồm ngay! - Lão Sửu gầm lên một tiếng the thé như tiếng lợn bị chọc tiết.
Lão vung ngọn đuốc trong tay lên, ngọn lửa tạt qua tạt lại trong gió bấc, tàn lửa bay rào rào vào mặt tuyết. Sự điềm tĩnh giả tạo của một bậc trưởng thượng trong làng hoàn toàn sụp đổ, để lộ ra bản chất của một kẻ thủ ác đang bị dồn vào chân tường:
- Mày chỉ là một lão ăn mày ngoại lai trôi dạt về đây! Mày biết cái thớ gì về những năm tháng đó! Năm đó nếu không làm thế thì cả cái bản này đã chết rụi không còn một mống! Chúng nó phải chết để dòng họ Trần tồn tại! Con Hoài chết là do số mạng nó mỏng! Giờ nó thành quỷ đòi mạng thì tao lấy con ranh Mỹ Trang đền lại mạng cho nó! Đó là việc nội bộ của họ Trần tao!
Đám trai làng nghe thấy những lời thú nhận điên cuồng ấy từ chính miệng người đứng đầu dòng tộc thì bắt đầu lùi lại phía sau vài bước. Một vài kẻ hạ gậy gộc xuống, ánh mắt nhìn lão Sửu đầy vẻ ghê tởm xen lẫn kinh hoàng.
- Trưởng làng... Chuyện năm xưa... là thật sao? - Gã trai cầm dao quắm run giọng hỏi, hàm dưới va vào nhau cầm cập - Các cụ ngày xưa... thật sự đã...
- Chúng mày câm hết họng lại! - Lão Sửu quay ngoắt lại quát thẳng vào mặt đám con cháu - Sợ cái gì? Năm đó ba mẹ chúng mày cũng ăn, ông bà chúng mày cũng nuốt từng miếng thịt đó mới đẻ ra được cái ngữ chúng mày ngày hôm nay! Đứa nào cũng có phần máu thịt đó trong người hết! Bây giờ con quỷ Hoài nó thức giấc rồi, nó cào tung huyệt mộ lên rồi! Nếu không mổ bụng con Mỹ Trang lấy máu tươi rưới lên tấm bài vị bằng đá granit đen ngoài bãi tha ma trước nửa đêm nay, thì sáng mai mười chín con quỷ kia sẽ bò vào từng nóc nhà xé toạc họng từng đứa một!
Sự tàn độc trần trụi phơi bày giữa đêm đông lạnh giá. Lão Sửu quay lại trừng trừng nhìn tôi, đôi mắt đỏ ngầu vằn lên tia hung ác cùng cực:
- Bước ra, hoặc tao đốt trụi cái am này cùng với con ranh đó!
Lão vung ngọn đuốc tẩm dầu hỏa, hùng hổ bước thẳng về phía cửa am. Đám trai làng bị những lời đe dọa về cái chết ám ảnh, lại siết chặt hung khí trong tay, chuẩn bị lao theo bước chân của lão già tàn nhẫn.
Tôi vẫn đứng yên, không hề lùi lại nửa bước. Bàn tay trái tôi từ từ rút ra khỏi tay áo cà sa, ngón trỏ và ngón giữa dựng thẳng tạo thành thế ấn Phục Ma gác ngang trước ngực. Đôi môi tôi bắt đầu mấp máy, phát ra từng âm tiết Phạn ngữ trầm đục, mang theo sức nặng của hàng chục năm thiền định khổ hạnh trên đỉnh núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn:
"Hum! Hỡi những kẻ mang lòng lang dạ thú, mắt trần thịt đục không thấy được bánh xe nghiệp báo luân hồi. Các người tưởng máu tươi của người vô tội có thể xoa dịu được oán hận ngút trời hay sao? Lấy ác trừ ác, lấy máu rửa máu, chỉ chuốc lấy họa diệt tộc mà thôi!"
Tiếng tụng chú của tôi không lớn, nhưng mỗi một chữ thốt ra đều tựa như tiếng chuông đồng vọng lại từ cõi hư vô, dội thẳng vào màng nhĩ của những kẻ đang đứng trước mặt. Gió bấc đang gào thét quanh am cốc bỗng chốc đảo chiều, thổi ngược từ sau lưng tôi tràn ra sân, mang theo hơi ấm nồng đượm của nội hỏa xua tan đi mùi dầu hỏa hôi hám.
Lão Sửu khựng lại giữa chừng, chân lão như bị dính chặt vào lớp băng tuyết dưới đất. Lão cố sức vung ngọn đuốc lên phía trước định ném vào vách liếp am cốc:
- Chém chết lão già này cho tao! Xông lên!
Nhưng không một ai dám nhúc nhích. Đám trai làng chết trân tại chỗ, hai đầu gối run lẩy bẩy trước oai lực tỏa ra từ vóc dáng gầy gò của tôi.
Và đúng vào lúc lão Sửu nghiến răng, dồn hết tàn lực của cánh tay gầy guộc định phóng ngọn lửa đi, một biến cố rùng rợn ập đến.
Ngọn lửa đỏ quạch đang cháy bùng bùng trên đầu cây đuốc của lão Sửu đột nhiên kêu lên một tiếng "xì" thật lớn, như thể vừa bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tim lửa.
Khói đen đặc quánh cuộn trào ra, che khuất cả gương mặt nhăn nheo của lão. Và ngay trước mắt tất cả mọi người, ngọn lửa đỏ bỗng chuyển biến thành một màu xanh biếc kỳ dị, lạnh lẽo đến rợn người.
Ánh sáng xanh lét ma quái hắt lên nền tuyết trắng một vùng u ám nhờ nhờ. Ngọn lửa xanh không bốc thẳng lên trời theo quy luật tự nhiên, mà uốn éo, vặn vẹo giữa không trung rồi phình to ra một cách dị thường. Từ trong lòng ngọn lửa xanh ấy, khói đen ngưng tụ lại thành hình thù một khuôn mặt người con gái méo mó, hai hốc mắt trống rỗng chảy ra hai dòng chất lỏng đen ngòm.
Khuôn mặt lửa xanh há ngoác cái miệng không có răng, phát ra một chuỗi âm thanh rên xiết the thé, ai oán đến buốt óc:
"Bác Sửu ơi... Trả thịt cho cháu... Trả mạng cho cháu..."
Tiếng khóc oan hồn xé toạc màn đêm buốt giá, vang vọng khắp sườn núi rừng thông.
- Ma! Quỷ Hoài về đòi mạng! - Một gã trai làng hét lên thất thanh, con dao quắm trên tay rơi tuột xuống nền tuyết phát ra tiếng "keng" chói tai.
Lão Sửu kinh hoàng tột độ. Đôi mắt lão lồi hẳn ra ngoài tròng, miệng há hốc không thốt nên lời. Nỗi sợ hãi tột cùng khiến lão buông rơi ngọn đuốc lửa xanh xuống đất. Cây đuốc cắm ngập vào lớp băng tuyết nhưng ngọn lửa xanh vẫn không hề tắt, nó vẫn cháy ngùn ngụt và phát ra những tiếng nấc nghẹn ngào rợn người.
Trong cơn hoảng loạn tột cùng, lão Sửu lảo đảo lùi lại phía sau, trượt chân ngã ngửa ra nền tuyết xốp. Cú ngã mạnh khiến chiếc áo bông chần của lão bị xốc ngược lên, ống tay áo bên phải bị kéo giật lên tận khuỷu tay.
Dưới ánh sáng xanh biếc chập chờn của ngọn đuốc quỷ, toàn bộ cánh tay phải của lão Sửu lộ ra trần trụi.
Đám trai làng đứng phía sau đồng loạt hít vào một hơi khí lạnh, có kẻ lùi lại vấp ngã dúi dụi.
Trên cánh tay già nua nhăn nheo của lão Sửu, từ cổ tay kéo dài lên tận bắp tay, không còn là làn da của một con người bình thường. Toàn bộ phần thịt ở đó đã biến thành một màu đen đúa thối rữa, nứt nẻ chằng chịt như vỏ cây khô bị sét đánh. Những đường rãnh sâu hoắm ấy không chảy máu đỏ, mà rỉ ra một thứ nước nhờn đen kịt bốc mùi tử khí nồng nặc.
Kinh khiếp nhất là hình thù của những vết nứt nẻ ấy. Đó không phải vết lở loét do bệnh tật ngoài da. Đó là những vết cào cấu sâu hoắm của móng vuốt quỷ dữ, hằn rõ năm ngón tay thon nhỏ của một người phụ nữ cắm ngập vào thịt xương từ bên trong trồi ra. Từng thớ thịt đen sì đang khẽ giật giật theo từng nhịp thở của lão, như thể có một sinh vật sống đang ký sinh dưới lớp da thịt tàn tạ kia.
Lão Sửu đã bị oán quỷ bám riết từ lâu.
Cái chết đang gặm nhấm lão từng ngày từng giờ từ chính bên trong da thịt. Thảo nào lão lại gấp gáp, điên cuồng muốn bắt Mỹ Trang đi tế sống đến như vậy. Lão muốn dùng máu tươi của đứa cháu nội để dập tắt ngọn lửa oán hận đang thiêu đốt cánh tay mình, hòng kéo dài thêm những ngày tàn hèn mọn.
Tôi bước ra khỏi bậu cửa am, từng bước dẫm lên tuyết tiến lại gần lão già đang nằm sóng soài dưới đất. Đôi mắt tôi nhìn thẳng vào cánh tay thối rữa của lão, cất giọng răn đe:
- Ngươi nhìn thấy chưa, Trần Văn Sửu? Móng vuốt của Lý Thị Hoài đã cắm sâu vào tủy xương ngươi rồi. Ngươi có giết hết cả bản làng này để tế lễ thì món nợ máu năm xưa cũng không bao giờ xóa sạch được. Kẻ gieo nhân nào thì phải gặt quả nấy, trốn chạy sao khỏi lưới trời lồng lộng?
Lão Sửu ôm chặt lấy cánh tay phải đang thối rữa, toàn thân co quắp lại trên nền tuyết lạnh. Lão ngước nhìn tôi bằng ánh mắt vừa căm thù vừa khiếp sợ tột cùng, miệng lắp bắp từng tiếng không thành câu:
- Cứu... Cứu tao... Thầy ơi... Cứu mạng...
- Muốn cứu mạng thì cút ngay về bản! - Tôi quát lớn, âm thanh chấn động màn đêm - Đêm nay không kẻ nào được phép rời khỏi nhà nửa bước! Mau dập hết đuốc, đóng chặt cửa nẻo, dùng tro bếp rải quanh ngưỡng cửa! Bần tăng sẽ đích thân ra bãi tha ma giải quyết món nợ này. Kẻ nào còn dám tơ hào ý nghĩ làm hại người vô tội, oán quỷ sẽ lập tức lấy mạng kẻ đó trước tiên!
Đám trai làng lúc này đã hoàn toàn vỡ mật. Chứng kiến ngọn lửa xanh biến thành mặt quỷ và cánh tay thối rữa ghê rợn của chính trưởng làng, bọn họ không còn chút can đảm nào để đứng lại.
- Chạy thôi! Chạy mau về làng thôi!
Một kẻ quẳng gậy gộc tháo lui trước, kéo theo những kẻ còn lại hoảng loạn giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy xuống dốc núi. Tiếng chân huỳnh huỵch đạp tuyết hỗn loạn hòa cùng tiếng thở dốc kinh hoàng tan biến dần vào màn đêm của rừng thông già.
Lão Sửu run rẩy chống gậy mun gượng đứng dậy. Lão vội vã kéo ống tay áo xuống che kín vết thương đen đúa đang rỉ nước hôi thối, đôi mắt lấm lét nhìn ngọn đuốc lửa xanh vẫn đang cháy chập chờn trên mặt tuyết, rồi lại nhìn tôi với vẻ kinh hoàng. Không dám thốt thêm một lời nào, lão quay người lảo đảo lê từng bước chân xiêu vẹo chạy theo đám trai bản, bóng lưng còng rạp khuất dần sau những thân cây phủ đầy tuyết trắng.
Khoảnh sân trước am cốc lại chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Ngọn lửa xanh trên cây đuốc tẩm dầu hắt lên một làn khói mỏng rồi lụi tàn dần, để lại một vệt băng đen kịt bốc mùi tanh tưởi trên nền tuyết. Gió đông lại thổi rít qua những tàng cây thông cổ thụ, mang theo từng cơn mưa tuyết mịt mù che lấp đi những dấu chân hỗn loạn vừa in trên mặt đất.
Tôi đứng lặng giữa trời đông giá rét hồi lâu, hai mắt nhắm nghiền, miệng khẽ niệm một biến chú Vãng Sanh để xoa dịu những oán niệm vừa bộc phát.
Mọi chuyện đã không thể trì hoãn thêm được nữa.
Vết móng vuốt quỷ trên tay Trần Văn Sửu chứng tỏ phong ấn ở bãi tha ma đã hoàn toàn tan vỡ. Con quỷ chúa mang hình hài Lý Thị Hoài đã bắt đầu gặm nhấm từng kẻ thủ ác, và cơn đói khát máu thịt của hai mươi cô hồn bị thảm sát năm xưa sẽ biến đêm nay thành một đêm huyết tẩy nếu đàn tế Chöd không được lập ra kịp thời.
Tôi quay gót bước vào trong am, khép chặt cánh cửa gỗ lại rồi cài then cẩn thận.
Mỹ Trang vẫn ngồi nép mình sau bàn thờ Phật, toàn thân run rẩy như chiếc lá rụng trước gió bấc. Con bé ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn tôi, giọng nghẹn ngào:
- Thầy ơi... Cụ Sửu... Cụ ấy...
- Con không cần nói nữa - Tôi ngắt lời con bé, ánh mắt dừng lại nơi chiếc rương gỗ đen đặt góc am - Món nợ của Bản Lường đã đến giờ phải thanh toán sòng phẳng. Đêm nay, bần tăng phải bước vào bãi tha ma trước khi canh ba điểm.
Tôi bước thẳng về phía chiếc rương gỗ cổ kính đã đóng bụi thời gian, quỳ một chân xuống nền đất, vươn tay mở nắp rương. Đã đến lúc đánh thức những pháp khí tối thượng của dòng truyền thừa Mật tông Tây Tạng để chuẩn bị cho trận chiến sinh tử giữa cõi u minh.