HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 15: Súng Chĩa Vào Đạo Sĩ
Đêm ngày thứ sáu, đoàn rút lên tiền thất ở mười bốn mét mà không ai nói một câu nào trên suốt đoạn mộ đạo. Về tới nơi, Quảng Khôn cho người bắc lại ván…
Nội dung chương
Đêm ngày thứ sáu, đoàn rút lên tiền thất ở mười bốn mét mà không ai nói một câu nào trên suốt đoạn mộ đạo. Về tới nơi, Quảng Khôn cho người bắc lại ván qua phiến đá lật, chia ca gác cửa, rồi ra lệnh đốt thêm một ngọn đèn bão nữa đặt giữa phòng như để xua đi bóng tối còn bám trên áo quần mọi người từ chủ thất đưa lên.
Trương Huyền Tố không ăn. Anh trải một tờ giấy dầu lên mặt một chiếc bình gốm giả, mài chu sa trong chiếc bát nhỏ, chấm nước, rồi ngồi lặng rất lâu trước khi Tiểu Thất thấy anh đặt bút. Anh không viết chữ. Anh vẽ lại ấn triện trên mắt xích thứ chín mà anh đã in dấu bằng cách áp giấy dầu ướt lên mặt sắt lúc còn ở dưới chủ thất, khi cả đoàn đã quay lưng đi lên. Tờ giấy dầu giờ đã khô, vệt chu sa anh tô lại theo dấu in hiện lên từng nét một: một khung vuông, trong khung là các nét chồng chéo như sợi xích quấn quanh một giọt máu, cổ kính và ác hiểm.
Hầu Tam ghé lại nhìn, rồi vội quay đi, miệng lẩm bẩm khấn vái. Lưu Cổ nhìn lâu hơn, sắc mặt thay đổi hẳn.
- Ấn này tôi từng thấy trong một cuốn sách cấm của hiệu buôn. - Hắn nói, giọng thấp xuống. - Người ta gọi nó là ấn khóa bằng máu. Sách nói thợ rèn đời xưa khi rèn khóa cho mộ quý tộc, có một lối rèn lấy máu của một dòng họ trộn vào sắt lúc tôi luyện. Khóa rèn xong chỉ nhận máu ấy. Máu khác chạm vào không ăn thua, búa đập chỉ tóe lửa.
- Anh nói đúng một nửa. - Huyền Tố đặt bút xuống. - Đây là ấn huyết chú. Nó không chỉ là khóa. Nó là một lời nguyền rèn vào sắt. Tôi cần nói chuyện này trước toàn đoàn, ngay bây giờ, và ông Khôn phải nghe cho hết.
Quảng Khôn ngẩng lên từ chỗ ngồi của hắn, tay còn cầm miếng lương khô ăn dở.
- Nói đi. Nhưng nói ngắn thôi, đạo trưởng. Mai còn phải mở mộ.
Huyền Tố đứng dậy, cầm tờ giấy dầu lên giữa ánh đèn, giọng anh vang đều trong tiền thất đá.
- Sợi xích chín vòng dưới kia không khóa kẻ trộm ở ngoài. Nó khóa thứ ở trong quan tài. Người rèn ra nó không sợ người ta lấy mất của cải trong quan tài, vì trong quan tài làm gì có của cải, chỉ có một cái xác ngâm trong bể thủy ngân trộn máu hiến tế và chu sa. Người rèn sợ cái xác ấy đi ra. Và ông ta rèn khóa bằng máu của một dòng họ nhất định, để khóa chỉ tự mở khi con cháu của dòng họ ấy tự tìm tới, tự chạm vào, tự nhỏ máu mình vào. Nói cách khác, ngôi mộ này là một cái bẫy chờ đúng một dòng máu. Dòng máu ấy, theo gia phả mà ông mang theo, theo thẻ gỗ họ Tạ trong đạo động, theo bát hương thờ cúng nhiều đời trong chính căn phòng này, chính là dòng máu họ Tạ của ông và của Tiểu Thất.
Tiền thất im phăng phắc. Tiếng đèn dầu cháy lép bép nghe rõ như tiếng mưa ngoài hiên.
- Tôi yêu cầu dừng toàn bộ việc mở mộ. - Huyền Tố nói tiếp, từng chữ như đóng đinh. - Ngay trong đêm nay, rút hết lên mặt đất, lấp lại đạo động tới đoạn nút sập, và quên ngôi mộ này đi. Ai đã thấy những gì dưới kia thì giữ kín tới chết. Đây không phải lời khuyên của người làm thuê. Đây là lời cảnh báo cuối cùng của một đạo sĩ Mao Sơn, nhân danh sư môn của tôi.
Quảng Khôn cười nhạt. Hắn đứng dậy chậm rãi, đặt miếng lương khô xuống, phủi vụn bánh trên tay, rồi rút từ trong thắt lưng ra khẩu súng lục. Thứ sắt lạnh ấy, ở trấn Thạch Môn đã là vật hiếm chỉ trùm trộm mộ mới có, xuống tới mười bốn mét sâu này lại càng trở nên lạc lõng và đáng sợ hơn bất kỳ pháp khí nào của đạo sĩ. Họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào ngực Huyền Tố, ở khoảng cách chỉ ba bước chân.
- Đạo trưởng nói xong chưa? - Quảng Khôn hỏi, giọng nhẹ tênh. - Tôi thuê anh bằng ba mươi đồng bạc trả trước, thuê anh xem phong thủy và trấn an cho đoàn, không thuê anh ra lệnh rút lui. Dưới kia có ngọc tỷ của tổ tiên tôi. Anh sợ thì anh cứ ngồi trên này, phần của anh tôi vẫn trả đủ khi lên mặt đất. Nhưng đứa nào trong đoàn này dám theo anh rút lui, bỏ của cải của họ Tạ lại dưới đất, đứa ấy chết ở đây, ngay tại tiền thất này, kể cả đạo sĩ.
Hắn lia họng súng một vòng chậm rãi qua mặt từng người: Mã Thiết Chủy cúi đầu tránh mắt hắn, Hầu Tam ôm chặt tràng hạt, Lưu Cổ nhìn chằm chằm vào tờ giấy dầu như không nghe thấy gì. Đỗ Nhị Lang co rúm người vào vách đá, Tiểu Thất đứng giữa hai người đàn ông, giữa họng súng và đạo sĩ, hai tay hắn buông thõng, lòng bàn tay phải toát mồ hôi lạnh.
Lần đầu tiên trong mười chín năm sống trên đời, Tiểu Thất thấy chú ruột mình như một người hoàn toàn xa lạ. Người đàn ông từng bế hắn qua suối khi hắn lên cơn sốt năm bảy tuổi, từng dạy hắn cầm bào gỗ lần đầu. Giờ đứng dưới ánh đèn bão ở mười bốn mét sâu, tay cầm súng chĩa vào người duy nhất trong đoàn nói thật, mắt không một chút do dự. Hoặc là Quảng Khôn đã biết hết mọi chuyện từ trước và nói dối cả đoàn từ thôn Tạ Gia Câu. Hoặc là lòng tham, tới độ sâu này, đã biến hắn thành một người khác hẳn mà chính hắn cũng không nhận ra.
Trong khoảnh khắc họng súng giơ lên, Tiểu Thất bước nửa bước về phía chú mình theo bản năng, rồi khựng lại. Hắn muốn nói một câu gì đó, bất kỳ câu gì, để hạ khẩu súng xuống: rằng Huyền Tố chỉ muốn giữ mạng cho cả đoàn, rằng ngọc tỷ chờ thêm ba ngày cũng không chạy đi đâu được dưới hai mươi mét đất đá. Nhưng cổ họng hắn khô cứng. Hắn sợ, không phải sợ súng, mà sợ điều hắn vừa nhìn thấy trong mắt chú mình: trong mắt ấy, hắn, đứa cháu ruột mà Quảng Khôn từng cõng qua suối. Giờ cũng chỉ là một phần việc của chuyến đi này, một thứ máu cần thiết để mở một cánh cửa, và nếu thứ máu ấy dám cãi lệnh thì nó cũng sẽ bị chĩa súng như bất kỳ ai.
Mã Thiết Chủy ho khan một tiếng, lên tiếng gỡ thế bí cho cả phòng, giọng hắn cố làm ra vẻ bông đùa mà không ai cười nổi.
- Khôn gia, bớt nóng. Đạo trưởng cũng chỉ lo cho anh em thôi. Ba ngày chuẩn bị cho chắc ăn, tôi nghe cũng phải. Búa của tôi đập xích ở nền đất khô khác với đập xích ngâm trong bể, trượt tay một nhát là cả bọn ăn đủ. Cho tôi ba ngày mài lại búa, thử xích, kê lại ván sàn, tôi cam đoan tới ngày mở thì không ai phải đập đến nhát thứ hai cho cùng một vòng.
- Phải đấy, Khôn gia. - Lưu Cổ tiếp lời rất nhanh, mắt hắn liếc khẩu súng rồi liếc tờ giấy dầu. - Ngọc nằm dưới bể ba ngàn năm còn không chạy, ba ngày nữa nó vẫn ở đấy. Mình chuẩn bị kỹ, lấy lên nguyên vẹn, bán mới được giá. Ngọc nứt một góc vì vội, mất nửa giá như chơi. Dân buôn chúng tôi sợ nhất là hàng lấy vội.
Quảng Khôn nghe hai người nói, họng súng hạ thấp dần một chút, nhưng tay hắn vẫn không rời cán súng. Huyền Tố biết mình vừa thua. Thua không phải ở họng súng. Anh thua ở chỗ cả đoàn này, dù sợ, vẫn chọn đứng về phía của cải. Anh đã mất quyền quyết định dừng việc mở mộ ngay từ lúc không một ai trong tiền thất lên tiếng cùng anh. Từ giờ, anh chỉ còn quyền quyết định cách mở, và anh phải dùng cái quyền ít ỏi ấy để kéo dài mạng sống cho tất cả, kể cả người vừa chĩa súng vào mình.
- Ông Khôn. - Huyền Tố nói, giọng vẫn đều, không lùi một bước nào dù họng súng chỉ cách ngực anh ba bước. - Ông có biết vì sao sư phụ tôi dặn tôi, gặp quan tài sắt đen xích chín vòng thì quay đầu, đừng hỏi vì sao không? Vì sư môn tôi từng có người xuống một ngôi mộ như thế này và không trở về. Tôi đã phạm lời dặn ấy từ ngày nhận tiền của ông ở trấn Thạch Môn. Tôi không rút một mình được nữa, vì nếu tôi rút, cả đoàn này sẽ chết dưới tay thứ trong quan tài trong vòng một đêm sau khi các người tự mở nó bằng búa. Ông ép tôi ở lại, được thôi. Nhưng nghe cho kỹ đây.
Anh hạ hai tay xuống, buông thõng bên người, một cử chỉ đầu hàng mà cũng là một lời tuyên chiến theo cách của đạo sĩ.
- Được, mở. Nhưng phải mở theo cách của tôi. Ba ngày chuẩn bị, không thiếu một bước. Gia trì lại sợi dây mặc đấu cho tử tế, chia thuốc chống thi khí, dặn kỹ điều cấm, giăng lưới ở cửa chủ thất trước khi động vào xích. Sai một bước, vội một ngày, thì không ai trong chúng ta lên được nữa, kể cả ông và khẩu súng của ông. Súng bắn được người sống, ông Khôn ạ. Nó không bắn được thứ đã chết ba ngàn năm trong bể máu đâu.
Quảng Khôn nhìn anh rất lâu. Rồi hắn hạ súng xuống, tra lại vào thắt lưng, cười một tiếng khô khốc.
- Ba ngày thì ba ngày. Nhưng quá ba ngày mà chưa mở, tôi sẽ tự mở theo cách của tôi.
Thỏa thuận ấy, nếu có thể gọi là thỏa thuận, khép lại đêm thứ sáu trong tiền thất. Đèn bão được vặn nhỏ lửa. Từng người nằm xuống ổ rơm trải trên nền đá, không ai ngủ thật sự. Tiểu Thất nằm quay mặt vào vách, tay sờ chiếc thẻ gỗ ở túi áo, nghe tiếng giọt nước từ chủ thất vọng lên qua hai lớp cửa đá, đều đặn như tiếng đếm ngược.
Cùng lúc ấy, trên mặt đất ở miệng hầm, người gác đêm là một tay phu thuê ở trấn đã về từ chiều. Nên không ai chứng kiến cảnh Quảng Khôn, trước khi xuống tiền thất, đã đứng một mình bên đống đất đào, hắt hơi một tiếng và đưa khăn tay lên lau mũi. Trong khăn tay của hắn có máu mũi của chính mình, đỏ tươi, không rõ từ lúc nào.
Còn dưới hai mươi mét sâu, mặt huyết trì lặng như gương trong chủ thất không người bỗng tự gợn lên một vòng sóng tròn, lan dần ra tới thành bể, dù trong phòng không có gió, và giọt nước trên trần vẫn chưa rơi xuống giọt tiếp theo.