HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 18: Ba Điều Cấm
Chiều ngày thứ bảy, khi nắng trên mặt đất đã ngả về phía tây dãy Tần Lĩnh, Quảng Khôn tập hợp cả đoàn ở miệng hầm để phổ biến kế hoạch mở mộ lần cuối.…
Nội dung chương
Chiều ngày thứ bảy, khi nắng trên mặt đất đã ngả về phía tây dãy Tần Lĩnh, Quảng Khôn tập hợp cả đoàn ở miệng hầm để phổ biến kế hoạch mở mộ lần cuối. Bảy người đứng quanh tấm bản đồ da dê trải trên mặt đất, mỗi người một vị trí được chỉ rõ bằng đầu ngón tay của hắn di chuyển trên tấm da như tướng quân di chuyển quân cờ.
- Mã Thiết Chủy và tôi đập xích, đứng hai bên quan tài. - Quảng Khôn nói, giọng rành rọt, không cho ai chen vào. - Hầu Tam cầm đèn chính, đứng ở đầu bể, soi cho người đập xích thấy mắt xích. Lưu Cổ ghi vị trí đồ vật, vớt ngọc khi nắp mở, không rời góc đông của bể. Đỗ Nhị Lang trực dây thừng ở cửa chủ thất, giữ đường rút, nghe lệnh là kéo. Tiểu Thất đứng cạnh đạo sĩ, truyền pháp khí theo lệnh, bưng đèn phụ. Đạo sĩ Huyền Tố đứng sau lưới, điều khiển toàn bộ việc mở nắp, đốt nhang tính giờ. Ai rời vị trí khi chưa có lệnh, mất phần. Ai làm trái lệnh rút, tôi xử theo luật đoàn.
Tạ Tiểu Thất nghe kế hoạch mà thấy nó chặt chẽ như một bản vẽ kỹ thuật của chú hắn. Mỗi người một việc, mỗi việc một chỗ đứng, không thừa không thiếu. Chỉ có một điều làm hắn lạnh gáy khi nhìn lại bản đồ: mọi vị trí đều nằm bên trong lưới mặc đấu, quanh bể, quanh quan tài. Và người đứng gần nắp quan tài nhất, ở chính vị trí đầu hồi, là vị trí của Mã Thiết Chủy và Quảng Khôn. Hai người sẽ đập xích và mở nắp.
Mã Thiết Chủy trong lúc ấy ngồi riêng một bên, mài lại búa tạ gia truyền trên hòn đá mài mang theo từ thôn. Hắn mài chậm rãi và kỹ, lưỡi búa đã mòn vẹt qua bao năm đập phá được hắn vuốt lại từng đoạn, thỉnh thoảng lại nhổ nước bọt lên đá mài theo thói quen của thợ rèn. Tiểu Thất ngồi xuống bên cạnh, đưa cho hắn bình nước.
- Chú Mã, chú không sợ à? - Hắn hỏi khẽ.
Mã cười, hàm răng vàng khè vì thuốc lá hiện ra trong nắng chiều.
- Sợ thì ở nhà trồng rau với vợ cho rồi, theo đoàn đào đất làm gì. - Hắn lật mặt búa, mài tiếp. - Cây búa này là của ông nội tao truyền cho cha tao, cha tao truyền cho tao. Ba đời nhà tao đều sống bằng cây búa này. Nó đập qua không biết bao nhiêu cửa mộ, cửa hầm mỏ, chưa từng sợ thứ gì dưới đất. Người ta sợ ma vì người ta tay không. Tao có búa trong tay, ma nó cũng phải sợ tao một phần.
Hắn nói nửa đùa nửa thật, giọng oang oang cho cả miệng hầm cùng nghe, như cố ý nói to để tự trấn an mình và trấn an cả đoàn. Đỗ Nhị Lang nghe xong, cười theo một tiếng méo mó, tay vẫn ôm chặt cuộn dây thừng của mình như ôm phao cứu sinh. Hầu Tam thì không cười. Hắn đang lẩm bẩm tính giờ hoàng đạo trong ngày, ngón tay bấm đốt liên tục, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn trời, lắc đầu vì mây che mất nắng nên không định được giờ cho chắc.
Huyền Tố chờ Quảng Khôn phổ biến xong mới bước vào giữa vòng người. Anh không cầm bản đồ. Anh cầm chiếc chuông đồng của mình, lắc nhẹ một tiếng cho cả đoàn chú ý, rồi nói ba điều cấm, nói đi nói lại đúng ba lần như đóng ba chiếc đinh vào cùng một tấm ván.
- Điều thứ nhất: không ai được đứng chính diện nắp quan tài khi nó hé. Nắp mở ra hướng nào, khói sẽ phun ra hướng ấy trước tiên, người đứng thẳng trước khe nắp là người chết đầu tiên, thuốc và khăn cũng không cứu kịp. Đứng lệch sang hai bên, đứng sau thành bể, cúi thấp người.
- Điều thứ hai: khăn tẩm dấm không được cởi, dù ngột đến đâu, dù mồ hôi chảy vào mắt cay xè, dù muốn ho hay muốn nôn. Cởi khăn một lần là hít khói bằng mặt trần. Dưới chủ thất không có lần thứ hai cho bất kỳ ai.
- Điều thứ ba: nghe tiếng chuông của tôi lắc dồn, là rút ngay, rút không cần lệnh của bất kỳ ai khác, không cần chờ ông Khôn gật đầu, không mang theo đồ đạc gì trên tay. Chạy lên mộ đạo theo dây thừng của Nhị Lang, từng người một, không chen lấn ở cửa lưới. Chuông lắc dồn nghĩa là tôi đã thấy thứ mà các người chưa thấy, và các người không có thời gian để ngoái lại xem nó là gì.
Anh nói xong, bắt từng người nhắc lại ba điều cấm bằng lời của mình. Mã Thiết Chủy nhắc lại với vẻ coi thường ra mặt, nói dân thợ rèn như hắn đứng chính diện lò lửa quen rồi, khói nào cũng vậy thôi, nhưng bị Huyền Tố bắt nhắc lại lần thứ hai cho đúng từng chữ mới cho qua. Lưu Cổ nhắc lại trôi chảy như thuộc lòng, mắt hắn vẫn liếc về phía túi áo ngực của Quảng Khôn một cái rất nhanh mà Tiểu Thất bắt gặp được, không hiểu là vì súng hay vì thứ khác. Đỗ Nhị Lang nhắc lại chậm rãi, gật đầu sau mỗi điều như sợ quên. Tiểu Thất nhắc lại sau cùng, giọng hắn vang rõ trong nắng chiều, và Huyền Tố nhìn hắn gật đầu một cái, cái gật đầu duy nhất không kèm theo lời sửa nào trong buổi chiều hôm ấy.
Hầu Tam là người nhắc lại ấp úng nhất. Hắn thuộc làu hai điều đầu, tới điều thứ hai về khăn tẩm dấm, hắn cười xòa, đưa tay tháo chiếc khăn của mình ra lau mồ hôi trên trán đang chảy ròng ròng vì nắng. Rồi buộc lại quanh cổ một cách lỏng lẻo cho dễ thở, nút khăn chỉ thắt hờ một vòng.
- Ngột thế này mà bịt kín thì chưa xuống tới chủ thất tôi đã ngất vì nóng rồi, đạo trưởng thông cảm. - Hắn nói, phẩy tay. - Xuống dưới kia lạnh, tới nơi tôi buộc chặt lại sau, lo gì.
Huyền Tố nhìn nút khăn lỏng ấy rất lâu. Anh định nói thêm, nhưng Quảng Khôn đã vỗ tay ra lệnh chuẩn bị xuống mộ, tiếng vỗ tay cắt ngang mọi lời dặn còn dang dở. Hầu Tam quay đi lấy đèn, nút khăn lỏng lẻo vẫn treo hờ trên cổ hắn, đung đưa theo từng bước chân.
Trước khi xuống, cả đoàn ăn bữa cơm cuối cùng trên mặt đất trong im lặng khác thường. Cơm nắm và thịt khô được chia đều, thêm một bình rượu gạo nhỏ mà Quảng Khôn mang ra, rót cho mỗi người đúng một chén. Hắn nâng chén lên trước.
- Xuống tối nay, lên ngày mai là người giàu. - Hắn nói. - Uống chén này, quên hết những lời xui xẻo trên đường đi. Ai sống sót trở lên mà còn nhắc chuyện hài cốt với bát hương, người ấy tự trừ phần của mình.
Không ai đáp lại lời chúc ấy bằng tiếng reo như hắn mong đợi. Bảy chiếc chén chạm nhau khẽ khàng trên miệng hầm, tiếng chạm nghe nhỏ và buồn như tiếng chuông xa. Huyền Tố không uống, anh đổ chén rượu của mình xuống đất trước miệng hầm, nói là để kính người đã nằm lại trong đạo động này bốn mươi năm trước, dù họ là ai. Quảng Khôn nhìn anh làm vậy, mặt sầm xuống, nhưng giữa bữa cơm cuối, hắn không gây sự nữa. Tiểu Thất uống cạn chén của mình, rượu cháy trong cổ họng làm hắn ho sặc, và Hầu Tam vỗ lưng cho hắn, cười bảo thằng nhỏ chưa quen rượu đoàn, uống một chén đã đỏ mặt, xuống dưới kia ngửi khói thì biết tay nhau. Câu đùa ấy làm Đỗ Nhị Lang cười theo, tiếng cười đầu tiên của cả đoàn trong ngày thứ bảy, ngắn và gượng, tắt ngay khi gió từ miệng hầm thổi lên mang theo hơi lạnh tanh của đất sâu.
Sau bữa cơm, Huyền Tố phát lại khăn tẩm dấm mới nhúng, kiểm tra từng nút buộc như kiểm dây cương trước khi qua vực. Tới nút khăn của Hầu Tam, anh dừng tay, tự mình tháo ra buộc lại thật chặt, mặc cho Hầu Tam kêu ngột. Anh nói một câu mà Tiểu Thất nghe rõ từng chữ, một câu dặn riêng không nằm trong ba điều cấm.
- Anh Hầu, anh là người định huyệt cho cả đoàn, anh ngã xuống thì đoàn mất mắt. Buộc chặt vào. Khó thở một lúc còn hơn không thở được nữa.
Hầu Tam gật đầu lia lịa, tay giữ nút khăn mới cho tới khi Huyền Tố quay đi. Nhưng Tiểu Thất, người đi sau hắn trong hàng xuống mộ, thấy rất rõ bàn tay ấy vừa khuất sau lưng đạo sĩ đã lén nới nút ra nửa nấc. Đúng nửa nấc như lúc ở tiền thất, và hắn thở ra một hơi dài nhẹ nhõm vì được hít khí trời cho đầy ngực trước khi xuống tối.
Đoàn bắt đầu xuống chủ thất lần cuối trong ánh đèn bão được thắp sớm. Tiểu Thất đi giữa đoàn như mọi lần, một tay cầm đèn, một tay sờ vào viên thuốc buộc ở cổ tay trái để chắc chắn nó vẫn còn đó. Hắn nghe tiếng bước chân của từng người trên bậc đá ẩm: tiếng giày nặng của Mã Thiết Chủy, tiếng dép nhẹ của Hầu Tam, tiếng dây thừng cọ vào vách của Đỗ Nhị Lang, tiếng súng lục chạm vào thắt lưng của chú hắn theo từng nhịp bước.
Và bỗng nhiên, ở bậc đá thứ mười mấy trên đường từ mười tám mét xuống hai mươi mét. Tiểu Thất nhận ra mình đang đếm bước chân của từng người trong đoàn như đếm những mối ghép cuối cùng của một cỗ quan tài mà chính tay hắn sẽ phải đóng nắp. Bảy người. Bảy tiếng chân. Hắn đếm đi đếm lại hai lần trên suốt đoạn mộ đạo tối, và lần nào cũng chỉ nghe thấy bảy tiếng chân. Dù trong bụng hắn cứ chờ đợi một tiếng chân thứ tám rất khẽ đi lẫn vào sau cùng, tiếng chân trần ướt mà hắn từng thấy dấu in quanh lều ở khe Hổ Khẩu.