HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 29: Nửa Tấm Bia Đá
Tiếng rắc trong họng con quái vật làm cả ba người khựng lại đúng một nhịp, rồi Trương Huyền Tố là người đầu tiên cử động. - Đi. - Anh nói, giọng không…
Nội dung chương
Tiếng rắc trong họng con quái vật làm cả ba người khựng lại đúng một nhịp, rồi Trương Huyền Tố là người đầu tiên cử động.
- Đi. - Anh nói, giọng không cao nhưng dứt khoát đến mức không ai dám hỏi lại. - Móng nứt từ bên trong là dấu hiệu đã biết trước, không phải bất ngờ. Nó nứt dần trong suốt một nén nhang, và vỡ hẳn khi nhang cháy hết. Chúng ta còn gần trọn một nén. Lãng phí thời gian đứng nghe nó nứt chính là tự cắt ngắn mạng của mình. Vào hậu thất, ngay bây giờ.
Cửa đá nhỏ của hậu thất nằm ở vách sau của chủ thất, bị huyết trì che khuất mất một nửa chiều cao, bình thường muốn tới gần phải lội qua mép bể nước đỏ. Đêm nay nước trong bể đã rút thấp sau một ngày bị con quái vật hút cạn để hồi khí, để lộ ra ngưỡng cửa và một lối đi hẹp bằng đá dọc theo thành bể mà những đêm trước không ai nhìn thấy. Tiểu Thất đi trước với đèn, Huyền Tố đi giữa, hai người dùng vai và một thanh đòn gỗ ngắn nạy cánh cửa đá đã kẹt cứng từ ngàn năm. Cửa đá rít lên trên nền, mở ra một khoảng tối nhỏ hơn chủ thất nhiều lần, hơi lạnh và mùi đá ẩm lâu năm phả ra cùng một ít nước đỏ rỉ qua khe cửa.
Bên trong hậu thất chỉ có hai thứ.
Một tấm bia đá lớn dựng ở vách trong cùng, cao hơn đầu người, rộng bằng hai sải tay, bề mặt khắc đầy chữ triện cổ. Nét nào cũng sâu và đều như được khắc bởi một bàn tay không hề run trong suốt quá trình làm việc tội ác của mình. Và bên cạnh bia, một bệ đá trống, bề mặt phẳng, sạch, có vết mòn hình vuông ở chính giữa như từng đặt một vật gì nặng trong thời gian rất dài rồi bị lấy đi. Bệ trống ấy, Tiểu Thất nhìn một cái là hiểu: thứ từng nằm trên đó chính là ngọc tỷ, và nó đã không còn ở đây từ rất lâu. Hoặc nó chưa từng rời khỏi ngôi mộ này mà chỉ đổi chỗ nằm sang huyết trì ngoài kia theo một cơ chế mà đoàn chưa hiểu hết.
Nước đỏ ngập tới nửa tấm bia.
Từ dưới mặt nước đỏ đục ngầu, phần dưới của bia chìm hẳn, không đọc được. Phần trên mặt nước, chữ khắc còn rõ dưới ánh đèn dầu mà Đỗ Nhị Lang giơ cao từ ngưỡng cửa. Nhị Lang không vào sâu. Hắn đứng ở cửa hậu thất đúng như phân công, một tay giữ đèn, một tay giữ nén nhang đã cắm vào khe đá, và thực hiện công việc khủng khiếp nhất trong đêm: đếm nhang thành tiếng.
- Nhang cháy được một phần rồi. Còn nhiều. Tôi đếm tiếp đây.
Giọng hắn vang nhỏ trong hậu thất, đều đều, như đếm nhịp tim của cả nhóm bằng một thứ không thể mặc cả.
Huyền Tố và Lưu Cổ mới là người đọc được văn bia, nhưng Lưu Cổ đang ở tiền thất giữ đường rút, nên đêm nay việc đọc dồn lên vai Huyền Tố và đôi mắt của Tiểu Thất. Đạo sĩ đọc chậm, dịch thành tiếng từng đoạn, ngắt quãng ở những chữ bị nước che hoặc nét khắc bị thời gian mài mòn. Còn Tiểu Thất ghi lại tất cả vào cuốn sổ tay của mình, tay run đến mức nét chữ xiêu vẹo, có chữ phải viết lại hai lần. Hắn ghi không sót một chữ nào mà đạo sĩ đọc được, vì hắn hiểu đây có thể là lần duy nhất trong đời có người đứng trước tấm bia này mà còn sống để quay lên.
Phần trên của bia kể một câu chuyện của thời Tây Chu.
Có một quý nhân họ Cơ, giữ chức thượng đại phu, trấn thủ một vùng đất phía nam của vương triều, trong tay nắm giữ ấn tín của triều đình và kho báu của cả một trấn. Quý nhân ấy có một kẻ bề tôi được tin cẩn bậc nhất, một gia thần quản khố, người giữ chìa khóa kho, giữ sổ sách, giữ cả con đường ra vào nơi cất giấu ấn tín. Quý nhân tin kẻ ấy như tin cánh tay của chính mình, giao cho hắn việc mà không một ai khác trong phủ được biết tới.
Rồi có một đêm, quý nhân chết.
Bia không ghi ông ta chết vì bệnh, không ghi chết trận, không ghi một tang lễ nào. Nét khắc ở đoạn này ngắn và lạnh một cách cố ý, như người khắc muốn người đọc đời sau tự hiểu bằng sự vắng mặt của mọi nghi lễ. Một cái chết trong đêm, không có tang lễ, không có khóc than, không có ghi chép trong sổ sách của phủ. Cùng đêm ấy, ngọc tỷ của quý nhân biến mất khỏi khố phòng. Và kẻ bề tôi được tin cẩn nhất, kẻ giữ chìa khóa, cũng biến mất khỏi mọi ghi chép thông thường, chỉ còn lại tên của hắn được nhắc tới trong phần dưới của tấm bia. Phần đang chìm dưới làn nước đỏ mà đoàn không đọc được trong đêm nay.
Tiểu Thất ghi tới đó thì tay hắn dừng lại.
- Đạo sĩ. - Hắn nói khẽ. - Quý nhân họ Cơ. Kẻ bề tôi giữ khố ấn. Cái chết trong đêm không tang lễ. Ngọc tỷ biến mất cùng kẻ bề tôi. Đây có phải là...
- Là đầu mối của mọi chuyện. - Huyền Tố đáp, mắt vẫn không rời mặt bia. - Nhưng chưa phải toàn bộ. Phần trên này mới kể có người chết và có kẻ đoạt của. Phần dưới nước kia mới là phần quan trọng nhất: kẻ bề tôi ấy đã làm gì với thi thể của chủ mình, ngôi mộ này được dựng thành cái gì, và vì sao họ Tạ phải trả nợ. Ghi tiếp đi, Tiểu Thất. Đọc được chữ nào ghi chữ ấy. Đêm nay chúng ta chỉ mang lên được nửa tấm bia này thôi, tôi e rằng như thế là đã quá tham so với thời gian một nén nhang cho phép.
- Nhang cháy quá nửa rồi! - Tiếng Đỗ Nhị Lang ở cửa bỗng cao lên, mất hẳn vẻ đều đều cố giữ từ đầu. - Các anh nghe tôi nói không, quá nửa rồi, vạch dấu của tôi đây, quá nửa thật rồi!
Huyền Tố ngẩng lên nhìn nén nhang. Khói nhang vẫn thẳng, tàn nhang cong lại ở đầu, và độ dài còn lại ngắn hơn hẳn lúc mới châm. Anh đọc vội thêm hai hàng chữ cuối cùng ở phần trên mặt nước, một hàng nhắc tới việc dựng mộ thay cho việc chôn cất, một hàng nhắc tới máu được dùng làm khóa cho một thứ sẽ canh giữ món nợ này thay cho người sống. Tiểu Thất ghi như bay, mực lem ra cả mép giấy, chữ sau đè lên chữ trước.
Tiểu Thất vừa ghi vừa nghe tiếng đếm của Nhị Lang, và càng nghe hắn càng hiểu vì sao Huyền Tố chọn nhang làm đồng hồ cho đêm nay chứ không chọn bất cứ thứ gì khác. Đồng hồ có thể nói dối, người có thể nhìn nhầm, nhưng nhang cháy trong hầm không gió thì không mặc cả với ai: một nén nhang là một nén nhang. Khoảng ba mươi phút của người sống đổi lấy ba mươi phút bất động của một con quái vật ba ngàn năm, và mỗi phân nhang cháy đi là một phân cơ hội đọc bia ít lại, một phân đường sống ngắn lại. Hắn nhìn sang Huyền Tố đang đọc, thấy trán đạo sĩ đẫm mồ hôi dù hầm lạnh cắt da, thấy tay trái của anh thỉnh thoảng lại đưa lên ngực áo như kiểm tra xem số Hắc Lư Đề còn lại trong hộp gỗ có còn nguyên ở đó không. Còn hai chiếc. Hai chiếc cho mọi đêm còn lại của chuyến đi này, nếu họ còn sống mà dùng tới. Tiểu Thất cúi xuống ghi tiếp, chữ run hơn, nhưng hắn tự hứa với mình rằng dù đêm nay chỉ mang lên được nửa tấm bia, hắn cũng sẽ nhớ từng chữ trong nửa ấy như nhớ tên của chính tổ tiên mình.
Rồi từ ngoài chủ thất vọng vào một tiếng động lớn hơn mọi tiếng rắc từ đầu đêm.
Không phải rắc nữa. Là tiếng vỡ. Rõ ràng, dứt khoát, như một vật cứng bị bẻ gãy từ bên trong bởi một sức mạnh đã chờ đủ lâu. Cùng lúc, qua khe cửa hậu thất, Tiểu Thất nhìn thấy lá Định Thân Phù trên trán con quái vật ngoài kia giật mạnh một nhịp trong ánh đèn từ xa. Và một trong mười chiếc móng đen của nó khẽ cử động, chỉ một chút, chậm như người ngủ say cựa mình.
- Rút! - Huyền Tố gào lên. - Bỏ hết, rút lên tiền thất, không quay đầu lại!
Ba người lao ra khỏi hậu thất, lội qua lối đá dọc thành bể trong tiếng nước đỏ bắn lên ống quần, Tiểu Thất ôm chặt cuốn sổ tay vào ngực như ôm một đứa trẻ. Đỗ Nhị Lang dập tắt nén nhang còn lại theo lệnh, vì giữ nó lúc này không còn ý nghĩa tính giờ nữa, thời gian đã hết theo cách không nhầm lẫn được. Họ vừa lách qua lớp lưới kép ở cửa chủ thất, vừa nghe phía sau lưng tiếng móng cào vào thành bể, tiếng nước đổ rào rào khi một thân thể nặng nề nhấc mình lên khỏi huyết trì lần thứ ba trong hai đêm.
Họ lên tới tiền thất, Lưu Cổ dỡ lớp đá chặn cuối cùng cho họ chui qua rồi lập tức chèn lại bằng cả sức của một kẻ biết rõ thứ gì đang ở sau lưng mình, đúng lúc sau lưng cả đoàn vang lên tiếng chiếc móng vỡ hẳn.
Huyết Thi tự nhổ chiếc móng lừa đã nứt ra khỏi họng.
Mảnh móng đen rơi xuống nền đá chủ thất, vỡ thêm thành mấy mảnh nhỏ, chí dương đã cạn. Lá phù trên trán nó bị chính nó giơ tay cào rách trong một động tác chậm rãi đến ghê người, giấy vàng rách rơi lả tả xuống mặt nước đỏ. Và lần này nó không gầm. Nó không phả khói. Nó không lao về phía lưới như một con thú bị đốt. Nó đứng trong huyết trì, nước đỏ chảy trên thớ thịt không da, cặp mắt đỏ như than hồng nhìn theo hướng đoàn vừa rút lên, im lặng, bất động, kiên nhẫn một cách hoàn toàn mới.
Như đã học được cách chờ đợi.