HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 37: Chuẩn Bị Lễ Phong Ấn
Ngày thứ mười một, Trương Huyền Tố chuẩn bị lễ phong ấn vĩnh viễn như chuẩn bị một trận đánh cuối, và anh làm từng việc một trước mặt mọi người để không…
Nội dung chương
Ngày thứ mười một, Trương Huyền Tố chuẩn bị lễ phong ấn vĩnh viễn như chuẩn bị một trận đánh cuối, và anh làm từng việc một trước mặt mọi người để không ai còn có thể nói mình không biết.
Ba cỗ quan tài tạm đã đậy nắp ở miệng hầm. Việc của người chết tạm xong. Từ sau giờ ngọ, việc của người sống bắt đầu, và nó nhiều đến mức anh phải chia ra từng phần, làm xong phần nào gạch bỏ phần ấy trong cuốn sổ nhỏ của mình.
Việc đầu tiên là ấn chú giữ đường.
Huyền Tố vẽ lại ấn chú quanh miệng hầm bằng chu sa trộn tro nhang, một vòng tròn khép kín ôm lấy lỗ đen, nét vẽ liền mạch không đứt đoạn. Rồi anh theo dây thừng xuống tới tiền thất, sâu mười bốn mét, vẽ thêm ấn chú ở ngưỡng thạch môn thứ nhất và dọc hai bên mộ đạo ở những đoạn đá hẹp nhất. Ấn chú này không giết được Huyết Thi, anh nói rõ cho Tiểu Thất đi theo phụ đèn nghe: nó chỉ làm nó chậm lại khi đi qua. Và quan trọng hơn, nó cho người trên mặt đất biết đường rút còn nguyên hay đã bị phá, vì nét chu sa đứt ở đâu là thứ ở dưới đã qua tới đó.
Việc thứ hai là lửa lễ.
Ở góc trại khuất gió, Huyền Tố luyện dầu hỏa với chu sa theo đúng cách sư môn dạy cho Tam Muội Chân Hỏa. Dầu được lọc qua vải, chu sa nghiền thật mịn, trộn theo từng phần nhỏ trong một chiếc thau đồng, vừa trộn vừa đọc ấn quyết rất khẽ. Anh làm chậm đến mức Tiểu Thất đứng cạnh sốt ruột, nhưng anh không cho ai phụ tay vào việc này.
- Lửa lễ không phải càng nhiều dầu càng tốt. - Anh nói. - Dầu nhiều, lửa to, khói đặc, dưới hầm kín hai mươi mét thì lửa giết người làm lễ trước khi đốt được quan tài. Lửa lễ phải vừa đủ để bắt vào ấn chú trên quan tài và ngọc tỷ, cháy đúng chỗ cần cháy, trong đúng khoảng một nén nhang ta có. Nhiều hơn là thừa, ít hơn là hỏng.
Anh chia dầu đã luyện vào hai bình nhỏ, niêm lại bằng giấy phù chưa dùng tới, đặt riêng trong rương, không để gần lửa trại.
Việc thứ ba là kiểm tra lần cuối số pháp khí còn lại, và lần này anh kiểm tra cùng Tiểu Thất, bắt hắn tự tay đếm lại thành tiếng, như một cách bắt hắn nhớ cho thật kỹ trước đêm lễ.
- Hắc Lư Đề còn mấy chiếc?
- Còn hai chiếc, thưa thầy. Một chiếc dùng trong lễ để đông cứng nó, một chiếc giữ cho lúc lửa cháy.
- Định Thân Phù còn mấy lá?
- Còn năm lá. Lá dùng trong lễ dán khi nó đã đông cứng. Ướt máu là mất hiệu lực.
- Mặc Đấu Tuyến thì sao?
- Còn một cuộn, một đoạn đã ướt máu mất dương khí, phải tránh đoạn ấy ra khi giăng. Dây đứt là chết cả lưới.
- Tỵ Thi Đan?
- Đã chia hết. Viên của chú cháu còn nguyên rơi ra lúc khâm liệm, cháu để theo quan tài của chú. Cháu không còn viên nào.
Huyền Tố gật đầu. Hắn nhớ không sai một chi tiết nào. Nhưng nhớ pháp khí chưa đủ. Việc thứ tư mới là việc anh dành trọn cả buổi chiều.
Anh viết toàn bộ trình tự lễ phong ấn lên giấy dầu, từng bước một, bằng chữ thường dễ đọc, rồi bắt Tiểu Thất học thuộc ngay trước mặt mình.
Trình tự ấy gồm những việc nối nhau không được đảo thứ tự: xuống chủ thất trước khi trời tối hẳn, giăng lưới mặc đấu ở cửa chủ thất bằng đoạn dây còn dương khí. Đặt hai bình dầu lửa lễ ở hai phía quan tài, chờ Huyết Thi rời bể hoặc há miệng thì nhét Hắc Lư Đề. Dán Định Thân Phù, sau đó người họ Tạ đứng trước quan tài, cắt máu lòng bàn tay, nhỏ máu lên nắp quan tài, đọc lời nhận nợ sám hối xưng đủ tên Tạ Hoằng và Cơ Trọng Khanh, không thiếu một tên, không đọc sai thứ tự. Trong lúc máu đang đổi chiều ấn huyết chú, đạo sĩ thắp Tam Muội Chân Hỏa thiêu quan tài cùng ngọc tỷ đặt trên nắp. Lửa bắt, người rút ngay lên theo mộ đạo, và trên mặt đất, việc sập mộ có kiểm soát được làm ngay khi người làm lễ đã qua đoạn an toàn.
- Đọc lại bước nhận nợ cho ta nghe. - Huyền Tố nói.
Tiểu Thất đọc. Giọng hắn run ở câu đầu, vững dần ở những câu sau. Hắn đọc tới lần thứ ba thì thuộc, tới lần thứ năm thì không còn vấp ở hai cái tên nữa. Mỗi lần đọc đủ hai cái tên Tạ Hoằng và Cơ Trọng Khanh trong cùng một lời nhận nợ, hắn lại như thấy hai người đàn ông cách nhau ngàn năm đứng ở hai đầu của cùng một sợi xích, và hắn là mắt xích cuối cùng còn sống.
Giữa buổi chiều, Huyền Tố còn làm một việc riêng mà anh không ghi vào trình tự. Anh thắp một nén hương ở góc trại quay về hướng núi Mao Sơn, hướng sư môn của mình, và đứng im trước nén hương ấy rất lâu. Tiểu Thất đứng từ xa nhìn, không dám tới gần. Hắn biết sư phụ của Huyền Tố, Trương Đạo Hằng, từng dặn đệ tử một lời mà cả đoàn đều đã nghe: gặp quan tài sắt đen xích chín vòng thì quay đầu, đừng hỏi vì sao. Huyền Tố đã không quay đầu. Anh đã xuống tới hai mươi mét, đã nhìn thấy quan tài, đã mở nó ra cùng đoàn. Và giờ anh chuẩn bị phá lệ tới cùng bằng một lễ phong ấn mà sư phụ anh chưa từng cho phép hay cấm đoán rõ ràng, vì sư phụ anh mất tích ở Tần Lĩnh đã hai mươi năm, không ai hỏi được nữa.
- Thầy tạ lỗi với sư phụ thầy à? - Tiểu Thất hỏi khẽ khi nén hương đã tàn quá nửa.
- Ta tạ lỗi vì đã phạm lời dặn. - Huyền Tố đáp, mắt vẫn nhìn về hướng núi xa. - Nhưng ta cũng phải thưa rõ với sư phụ, rằng quay đầu lúc này là để món nợ này lại cho đời sau. Sư phụ dặn ta quay đầu để giữ mạng cho ta. Người không dặn ta phải giữ mạng bằng cách để một đứa cháu mười chín tuổi khác chết thay ở đời sau. Đêm lễ mà ta không về, lá thư ta để lại ở quán trọ Phùng gia ký sẽ có người gửi về Mao Sơn. Trong thư ta đã viết đủ. Sư môn xử tội thế nào, ta chịu thế ấy, miễn là lễ này xong.
Anh rút nén hương đã tàn xuống, gói tro lại cẩn thận, như gói một món đồ phải mang về.
Trước khi dạy Tiểu Thất học thuộc trình tự, Huyền Tố cũng kiểm tra lại vết thương và sức khỏe của từng người sẽ ở lại miệng hầm. Chân của Đỗ Nhị Lang được nẹp lại lần nữa, dây giữ miệng hầm được thay đoạn đã sờn, đèn hiệu được châm đầy dầu và thử đi thử lại tín hiệu kéo dây. Một giật là dừng, hai giật là kéo lên, ba giật liên tiếp là có việc khẩn, kéo hết sức. Đỗ nhắc lại tín hiệu không sai một lần, dù tay hắn run. Lưu Cổ được giao giữ lửa trại và canh giờ bằng nén nhang lớn cắm ở miệng hầm, việc nhẹ nhất trong đêm lễ, và hắn nhận việc ấy với một cái gật đầu ngoan ngoãn đến mức Tiểu Thất lại thấy bất an.
Học thuộc xong trình tự, Huyền Tố mới dặn điều cấm kỵ trên hết, điều anh dặn đi dặn lại ba lần và bắt Tiểu Thất nhắc lại nguyên lời.
- Trong lúc làm lễ, dù nghe thấy tiếng của bất kỳ ai gọi tên cháu từ dưới hầm, cũng tuyệt đối không được đáp lời.
Anh nhìn thẳng vào mắt hắn.
- Kể cả tiếng của người đã chết. Kể cả tiếng của chú cháu. Kể cả tiếng gọi đúng tên cúng cơm của cháu, cái tên chỉ người nhà mới biết. Nguyền của ngôi mộ này sống nhờ máu và nhờ lời đáp. Người dâng máu mà đáp lại tiếng gọi của người chết giữa lễ, là tâm bị kéo ra khỏi lễ, là máu đang dâng bị chia làm hai đường. Chỉ cần cháu đáp một tiếng, lễ hỏng, ấn không đổi chiều, và nó có thêm một lối để bám vào cháu. Cho nên đêm lễ, cháu chỉ được nói đúng những câu trong trình tự. Ngoài ra, im lặng, dù nghe thấy gì cũng im lặng. Nhắc lại cho ta nghe.
- Trong lúc làm lễ, dù nghe ai gọi tên cháu, kể cả người đã chết, cháu cũng không đáp lời. Cháu chỉ nói đúng những câu trong trình tự.
- Nhớ cho kỹ. - Huyền Tố nói. - Nó sẽ thử cháu ở đúng chỗ ấy. Mọi thứ khác nó đã thử rồi: khói, máu, lưới, đá sập. Chỉ còn một thứ nó chưa thử được, là tiếng gọi.
Tiểu Thất học thuộc trình tự trong một buổi chiều, tay run nhưng mắt không tránh. Đến cuối buổi, hắn gấp giấy dầu lại, trả cho Huyền Tố, và nói rằng hắn không cần mang theo giấy nữa. Giấy cháy được, giấy ướt được. Thứ đã thuộc trong đầu thì lửa và nước đều không lấy đi ngay được.
Đêm chưa xuống, cả trại đã nghe những âm thanh lạ vọng lên từ miệng hầm theo gió.
Ban đầu chỉ là tiếng nước sôi lục bục rất xa, như từ đêm qua vẫn chưa dứt. Rồi là tiếng xích sắt va vào thành quan tài, leng keng, cách quãng, không theo nhịp nào của người sống. Đỗ Nhị Lang nằm giữ miệng hầm, mặt tái đi, tay hắn nắm chặt mép cáng. Lưu Cổ đứng ở cửa lều của mình, nhìn xuống miệng hầm không chớp mắt, và lần này Tiểu Thất không đọc được gì trong mắt hắn nữa.
Huyền Tố ra hiệu cho mọi người im lặng, giữ lửa nhỏ lại, không ai được tới gần miệng hầm sau khi trời tối nếu không có việc trong trình tự.
Khi trời vừa sập tối, gió trong khe đổi chiều, thổi từ miệng hầm lên thành một luồng lạnh mang mùi tanh sắt. Và từ sâu trong cái lỗ đen ấy, vọng lên một tiếng gọi rất khẽ.
Tiếng gọi ấy gọi đúng một cái tên. Không phải tên Tạ Tiểu Thất mà cả đoàn vẫn gọi. Đó là tên cúng cơm của hắn, cái tên chỉ bà nội hắn ở thôn và chú Quảng Khôn đã chết của hắn từng dùng khi hắn còn nhỏ.
Tiếng gọi chỉ vang lên một lần. Rồi miệng hầm im lặng trở lại, im lặng như chưa từng có gì, để lại bốn người trên mặt đất nhìn nhau trong ánh lửa, và ai cũng hiểu điều cấm kỵ vừa được dặn ban chiều đã không còn là một lời dặn suông nữa.