HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 39: Chốt Cơ Chế Bẫy
Ngày thứ mười một, khi Tiểu Thất về thôn gặp Tạ lão thái, Trương Huyền Tố ngồi một mình ở trại tạm và đối chiếu ba nguồn với nhau lần cuối. Trước mặt…
Nội dung chương
Ngày thứ mười một, khi Tiểu Thất về thôn gặp Tạ lão thái, Trương Huyền Tố ngồi một mình ở trại tạm và đối chiếu ba nguồn với nhau lần cuối.
Trước mặt anh, trên tấm vải dầu, đặt ba thứ. Thứ nhất là bản chép trọn văn bia hậu thất trên giấy dầu, chép trong đêm ngày thứ chín khi huyết trì rút thấp, từng chữ dịch ra từ chữ triện trên đá. Thứ hai là cuốn gia phả gốc của họ Tạ, bìa mòn, thiếu nhiều trang cuối, trang cuối còn dòng chữ tay run rẩy của Tạ Văn Sâm. Thứ ba là những điều Tạ lão thái vừa kể cho cháu mình nghe, được Tiểu Thất thuật lại nguyên vẹn khi hắn quay lên trại lúc trời chưa tối hẳn: thẻ gỗ là của chồng bà. Toán trộm bốn mươi năm trước chết trong chính ngôi mộ này, người duy nhất thoát ra thì phát điên chỉ nói một câu, và lệ thắp hương giấu kín của những người đàn bà trong nhà họ Tạ qua nhiều đời.
Huyền Tố đọc lại từng nguồn một, chậm rãi, như một người sắp đặt ba mảnh vỡ của cùng một chiếc bình lên bàn để xem chúng có thật sự khớp nhau không.
Chúng khớp nhau. Khớp đến mức không còn một khe hở nào cho sự tự an ủi.
Anh lấy bút, viết lên một tờ giấy dầu mới dòng chữ chốt lại toàn bộ cơ chế của cái bẫy này. Anh viết cho chính mình đọc trong đêm lễ, và cũng viết như một bản kết án hoàn chỉnh cho người đọc sau này nếu anh không trở lên được.
Tạ Hoằng, gia thần quản khố của thượng đại phu Cơ Trọng Khanh, giết chủ trong một đêm, đoạt ngọc tỷ bằng bạch ngọc khắc sáu chữ triện đọc là Trọng Khanh Trấn Nam Chi Ấn. Hắn thay quan tài gỗ bằng quan tài sắt đen, ngâm thi thể chủ trong huyết trì chứa thủy ngân, chu sa và máu hiến tế theo tà thuật ngâm thi. Hắn dựng chính ngôi mộ của chủ thành một bẫy nuôi quỷ, để hồn chủ hóa thành Huyết Thi giữ nguyền trong quan tài. Và hắn khắc ấn huyết chú ba lớp, khóa chặt vào huyết mạch của chính dòng họ hắn.
Lớp thứ nhất: xích sắt quấn chín vòng quanh quan tài chỉ nhận máu của người mang huyết mạch họ Tạ. Mắt xích thứ chín khắc ấn, người ngoài đập búa chỉ tóe lửa không đứt, máu họ Tạ chạm vào mới tự giải. Điều này đã ứng nghiệm ngay trước mắt cả đoàn: tám vòng xích đứt bằng búa tạ, vòng thứ chín chỉ nứt khi máu từ bàn tay bị cắt của Quảng Khôn nhỏ đúng vào mắt xích.
Lớp thứ hai: Huyết Thi chỉ trọn vẹn thức tỉnh khi người họ Tạ đích thân mở khóa bằng máu của mình. Trước lúc ấy, nó nằm ngâm trong bể mà chờ, biết nghe, biết nhận mùi huyết mạch từ xa, như giấc mơ người đàn ông không da đứng bên giếng mà Tiểu Thất gặp từ đêm đầu tiên ở thôn. Đêm nắp quan tài mở, nó bỏ qua mọi người, chỉ nhìn và giết đúng kẻ vừa mở khóa là Quảng Khôn. Với Tiểu Thất, kẻ họ Tạ chưa đổ máu mở khóa, nó né khói cho hắn sống, nhường đường cho hắn giữa mộ đạo, đuổi theo mùi máu của hắn lên tận ranh giới ánh sáng. Tất cả đều là một cơ chế: nó chờ đúng người, đúng cách, đúng thời điểm đòi nợ.
Lớp thứ ba: nguyền chỉ giải khi người họ Tạ tự nguyện dâng máu trong sám hối, nhận nợ thay tổ tiên, xưng đủ tên kẻ giết người và người bị giết. Ngược lại, mỗi người họ Tạ chết oan trong mộ đều làm nguyền mạnh thêm một đời. Đây là lớp độc nhất, và nó giải thích mọi bi kịch của dòng họ này trong ngàn năm qua. Các toán trộm họ Tạ đời trước càng chết nhiều trong mộ, con quái vật càng dữ, bẫy càng chắc, vì máu họ đổ xuống đều là máu đổ sai cách. Toán của Tạ Văn Sâm bốn mươi năm trước chết gần hết trong đạo động. Đời này, máu của Quảng Khôn mở toang khóa. Nếu đêm lễ này Tiểu Thất cũng chết oan dưới đó, đời sau sẽ phải đối mặt với một thứ còn mạnh hơn tất cả những gì đoàn này đã gặp.
Và để cái bẫy tự vận hành qua ngàn năm mà không cần người canh giữ, Tạ Hoằng để lại hai thứ mồi. Cuốn gia phả đã sửa kể câu chuyện đảo ngược, rằng ngọc tỷ là gia bảo họ Tạ bị họ Cơ đoạt mất, và tấm bản đồ da dê chỉ đường vào mộ. Mồi nhử ấy được chính con cháu hắn truyền tay nhau như một niềm tự hào. Mỗi đời, chỉ cần một kẻ họ Tạ tham của và một đứa cháu đủ lớn tin vào câu chuyện đẹp, bẫy lại tự mở. Ngôi mộ không cần ai mời. Nó chỉ cần dòng họ này tự dẫn nhau tới, đời này qua đời khác.
Huyền Tố viết tới đó thì đặt bút xuống.
Ngồi một mình giữa trại vắng, anh bỗng nghĩ tới căn phòng trọ ở trấn Thạch Môn mà đoàn đã bỏ lại khi vào núi. Ở đó, trong ngăn kéo bàn, còn lá thư anh để lại cho quán trọ từ hôm được thuê: nếu mười lăm ngày không thấy anh trở ra, xin gửi lá thư ấy về núi Mao Sơn cho sư môn. Hồi ấy anh viết thư như một thói quen cẩn thận của người làm nghề nguy hiểm. Giờ nghĩ lại, từng dòng trong thư đều như viết cho chính cái bẫy này: anh đã nhận ra dấu hiệu sai ngay từ tấm bản đồ có mùi thi khí, từ phiến đá tế văn. Anh còn thấy hài cốt người họ Tạ trong đạo động, đồ tùy táng giả trong tiền thất, và anh vẫn đi tiếp vì bị súng ép, vì món nợ tiền của quán đạo, và vì một manh mối mơ hồ về sư phụ mất tích. Anh không vô tội trong việc này. Đêm lễ, nếu anh phải trả giá thêm, đó cũng là phần của anh.
- Mọi mảnh ghép khớp nhau không thiếu một mảnh. - Anh nói thành tiếng, một mình, như kết luận cho một phiên xử không có quan tòa. - Tội của Tạ Hoằng. Cơ chế của bẫy. Lý do nó chờ. Cách duy nhất để dứt. Tất cả đã rõ. Chỉ còn việc làm cho xong vào đêm nay.
Trước khi gấp giấy, anh đọc lại một lần nữa điều kiện về ngọc tỷ, vì đó là mắt xích dễ bị lòng tham bẻ gãy nhất trong cả cơ chế. Ngọc tỷ không chỉ là món cổ vật đắt giá mà Lưu Cổ vẫn định giá trong đầu. Theo văn bia, nó là vật neo thứ hai của nguyền, neo cùng với quan tài sắt. Quan tài là nơi neo hồn, ngọc tỷ là vật neo của lời nguyền gắn với hồn ấy. Hai vật neo còn đủ cả hai, nguyền còn bám được. Thiêu quan tài mà ngọc tỷ bị cầm ra khỏi mộ, nguyền sẽ theo ngọc tỷ mà đi, bám vào người cầm nó trước tiên. Anh gạch dưới ý ấy hai lần trong tờ giấy dầu, vì anh biết trong đoàn này có một người đã nghe điều ấy ít nhất ba lần mà mắt vẫn sáng lên mỗi khi nghe nhắc tới hai chữ ngọc tỷ.
Anh gấp tờ giấy dầu lại, nhét vào ngực áo, cạnh hai bản chép văn bia.
Đúng lúc ấy, ngoài trại có tiếng chân khập khiễng và tiếng gọi hốt hoảng.
Đỗ Nhị Lang chống nạng gỗ tạm, lết từng bước từ phía miệng hầm tới, mặt hắn trắng bệch, mồ hôi chảy thành dòng dù trời chiều không nóng. Hắn vừa lết vừa gọi, giọng lạc đi.
- Thầy Tố! Thầy Tố! Lưu Cổ mất tích rồi!
Huyền Tố đứng bật dậy. Tiểu Thất vừa quay lại trại cũng chạy tới đỡ Đỗ Nhị Lang ngồi xuống phiến đá.
- Từ lúc nào? - Huyền Tố hỏi, giọng anh sắc lại ngay.
- Từ giữa trưa, thầy ạ. - Đỗ thở hổn hển, tay chỉ về phía lều của Lưu Cổ. - Trưa nay hắn nói vào lều nằm nghỉ, dặn tôi đừng gọi nếu không có việc. Tôi nằm giữ miệng hầm, mắt cứ nhìn xuống hầm, không để ý lều. Vừa rồi tôi khát nước, gọi hắn hai ba tiếng không ai thưa. Tôi lết sang xem, lều trống không. Ba lô của hắn không còn. Đèn riêng của hắn cũng không còn. Giường nằm lạnh ngắt từ lâu rồi.
Huyền Tố không nói một lời. Anh đi thẳng tới lều của Lưu Cổ, vén cửa lều lên. Bên trong chỉ còn một tấm chăn mỏng gấp vội, nền đất còn hằn vết ba lô đặt lâu ngày, và không còn gì khác. Bộ đồ nghề buôn cổ vật, túi da, lương khô mang theo người, tất cả đều biến mất cùng chủ của chúng.
Anh quay lại, nhìn Tiểu Thất. Mặt người thợ mộc trẻ cũng vừa đổi sắc, vì hắn là người đã tìm thấy túi da đựng dụng cụ tách ngọc và tấm bản đồ tay vẽ vị trí huyết trì trong ba lô của Lưu Cổ đêm trước nữa. Hắn đã kể lại cho Huyền Tố nghe ngay sáng hôm sau.
- Hắn xuống mộ một mình. - Tiểu Thất nói, câu nói bật ra không cần ai kết luận hộ. - Giữa trưa, lúc nó đang ngâm bể, lúc ban ngày là khoảng an toàn nhất. Hắn tính cả rồi, thầy ạ. Hắn chờ đúng ngày cuối, khi mọi người bận chuẩn bị lễ và về thôn, để xuống lấy ngọc tỷ một mình.
Huyền Tố đi nhanh về phía miệng hầm, Tiểu Thất dìu Đỗ Nhị Lang đi theo sau. Cả ba tới bên lỗ đen khi nắng chiều đã xế hẳn.
Ở miệng hầm, trên nền đá và đất ẩm quanh miệng lỗ, dấu vết còn tươi nguyên.
Một hàng dấu chân mới in rõ trong đất mềm, đế giày của người làm nghề buôn bán đường dài, đi từ hướng lều của Lưu Cổ thẳng tới miệng hầm, không có dấu chân quay lại. Bên cạnh dấu chân là một vệt dầu đèn dài, còn ướt và bóng lên trong nắng cuối ngày, như có người đã châm đèn riêng ngay tại miệng hầm trước khi xuống, châm vội đến mức làm đổ dầu ra ngoài. Ấn chú bằng chu sa mà Huyền Tố vẽ quanh miệng hầm ban chiều, ở đúng phía dấu chân đi qua, có một đoạn bị giày dẫm lên làm nhòe đi, đứt quãng.
Tiểu Thất cúi xuống nhìn hàng dấu chân dẫn vào bóng tối, và hắn hiểu ngay, không cần ai nói thêm, rằng có người vừa một mình xuống ngôi mộ của Huyết Thi cách đây không lâu. Mang theo bộ dụng cụ tách ngọc và một tấm bản đồ tự vẽ, đi lấy thứ mà cả đoàn đã thề trước đống lửa là không một ai được giữ lại dù chỉ một mảnh.