HUYẾT THI MỘ TÂY CHU - Chương 38: Thẻ Gỗ Của Ông Nội

Chiều ngày thứ mười một, Tạ Tiểu Thất về thôn Tạ Gia Câu lần cuối trước lễ phong ấn, mang theo chiếc thẻ gỗ họ Tạ mà hắn nhặt được trong đạo động. Thôn…

Nội dung chương

Chiều ngày thứ mười một, Tạ Tiểu Thất về thôn Tạ Gia Câu lần cuối trước lễ phong ấn, mang theo chiếc thẻ gỗ họ Tạ mà hắn nhặt được trong đạo động.

Thôn nằm lặng dưới chân núi, khói bếp lên đều từ những mái nhà thấp, tiếng chó sủa xa, tiếng trẻ con gọi nhau ở ngõ. Mười một ngày vào núi, hắn tưởng mình đã đi rất lâu, lâu đến mức thôn sẽ phải khác đi. Vậy mà thôn vẫn nguyên như cũ, chỉ có hắn là khác. Hắn đi qua ngõ nhà mình với ba lô nhẹ tênh, trong ngực áo là cuốn giấy dầu và chiếc thẻ gỗ nhỏ bọc vải, và hắn thấy người làng nhìn hắn bằng ánh mắt lạ. Thằng Thất đi theo chú nó vào núi, giờ về một mình, mặt mũi hốc hác, áo quần vương mùi khói và mùi đá ẩm không giặt ra được.

Nhà hắn ở cuối xóm, gian thờ quay ra sân, cửa gỗ vẫn khép hờ như mọi ngày bà nội ở nhà một mình.

Tạ lão thái ngồi trên chõng tre trong sân, tay lần chuỗi hạt, mắt nhìn ra ngõ như đã chờ từ lâu. Bà năm nay bảy mươi tám tuổi, lưng đã còng, tóc bạc trắng, nhưng mắt vẫn tinh và giọng vẫn rõ. Thấy cháu về, bà không hỏi hắn có lấy được gia bảo không, không hỏi Quảng Khôn đâu, không hỏi đoàn người đâu. Bà chỉ nhìn hắn một lúc rất lâu, rồi nói một câu như nói với chính mình.

- Về được tới nhà là còn phúc. Ngồi xuống đây, để bà xem mặt mày.

Tiểu Thất ngồi xuống bậc thềm, lấy từ ngực áo ra chiếc thẻ gỗ bọc vải, mở từng lớp, đặt lên lòng bàn tay, đưa cho bà.

Chiếc thẻ gỗ nhỏ, dài bằng hai đốt ngón tay, một mặt khắc chữ Tạ đã mòn, mặt kia còn dấu khía của dây đeo ngày xưa. Hắn nhặt nó từ bàn tay xương của bộ hài cốt trong đoạn động sập ở mười hai mét, bộ hài cốt của toán trộm năm xưa. Hắn đã giữ nó suốt từ hôm ấy, chưa từng đưa cho ai xem kỹ, chỉ nói qua với Huyền Tố rằng trong động có hài cốt người họ Tạ.

Tạ lão thái cầm chiếc thẻ lên.

Tay bà run bần bật. Chuỗi hạt trên tay kia tuột xuống, rơi vào lòng mà bà cũng không hay. Bà lật thẻ qua, lật thẻ lại, ngón tay lần theo từng nét khắc đã mòn như lần theo một khuôn mặt đã khuất bốn mươi năm. Rồi bà áp chiếc thẻ vào ngực mình, nhắm mắt lại, và hai hàng nước mắt chảy xuống trên khuôn mặt đầy nếp nhăn của người đàn bà đã chờ một tin tức suốt bốn mươi năm mà không dám nói mình đang chờ.

- Là của ông mày. - Bà nói, giọng bà vỡ ra. - Là thẻ của Tạ Văn Sâm, chồng bà, ông nội mày. Thẻ này bà tự tay khắc cho ông ấy ngày ông ấy lên đường. Khắc bằng dao gọt hoa quả trong bếp này, khắc xấu, chữ xiêu một bên. Bà dặn ông ấy đeo sát người, dù thế nào cũng không được bỏ. Ông ấy chết trong cái mộ ấy, Thất à. Bốn mươi năm nay bà biết, mà bà không được nói.

Tiểu Thất ngồi im. Hắn đã đoán điều này từ lâu, từ hôm nhìn thấy thẻ trong động, nhưng nghe chính miệng bà nội xác nhận, tim hắn vẫn thắt lại như bị ai bóp.

Bà kể hết, lần này không giấu một điều nào nữa.

Bốn mươi năm trước, năm 1894, Tạ Văn Sâm dẫn một toán trộm toàn người họ Tạ và người quen trong vùng vào khe Hổ Khẩu, cũng bằng cuốn gia phả kể chuyện gia bảo bị đoạt, cũng bằng tấm bản đồ da dê chỉ đường vào mộ. Toán ấy đi bảy người hay tám người, bà không nhớ chính xác nữa, chỉ nhớ họ ra đi vào một đêm mùa thu, mang theo búa, dây, đèn và một con gà trống. Sau đó không một ai trở về nguyên vẹn. Chỉ có một người duy nhất thoát ra được khỏi miệng hầm, bò về tới bìa rừng thì phát điên, từ đó tới ngày chết chỉ lặp đi lặp lại một câu duy nhất với bất kỳ ai tới gần.

- Nó ngồi dậy rồi. - Bà nói, mắt nhìn xa xăm. - Người ấy cứ nói một câu ấy. Nó ngồi dậy rồi. Không nói được gì khác nữa. Nhà mình đưa cơm, đưa thuốc, mời thầy, đều vô ích. Mấy năm sau thì người ấy mất. Còn ông mày và những người còn lại, không ai tìm thấy xác. Nhà mình chỉ dám lập một bàn thờ vọng trong buồng, không dám để ở gian thờ, vì người làng mà biết nhà này có người chết vì đi trộm mộ tổ tiên thì còn mặt mũi nào.

- Vậy bát hương trong tiền thất dưới mộ... - Tiểu Thất hỏi khẽ.

- Là của nhà mình thắp. - Bà gật đầu, và điều hắn vừa nghe khớp hẳn với điều Huyền Tố đã thấy: trong tiền thất sâu mười bốn mét có một bát hương nhiều đời, lớp tro mới nhất khoảng bốn mươi năm. - Đời nào nhà này cũng có một người đàn bà biết chuyện. Bà của ông mày biết, mẹ chồng bà biết, rồi tới bà. Mỗi đời, người đàn bà giữ nhà thắp hương cho một ngôi mộ không phải mộ tổ tiên, khấn cho những người đàn ông đã mất trong núi, và giữ kín câu chuyện gia bảo cho đẹp mặt dòng họ. Đời nào họ Tạ cũng có một người đàn ông biến mất trong núi, và đời nào cũng có một người đàn bà ở nhà thắp hương mà không được nói vì sao.

Lời bà nói khớp từng chữ với điều hắn đã đọc trong gia phả gốc và văn bia. Nhà này đời nào cũng thiếu một người đàn ông. Đó không phải lời than. Đó là lệ của một dòng họ bị nguyền, truyền từ đời này sang đời khác bằng im lặng.

- Sao bà không nói cho cháu sớm hơn? - Hắn hỏi, không phải trách, mà là một câu hỏi hắn cần nghe bà trả lời trước đêm lễ. - Hôm chú về thôn, bà đã biết chú nói dối. Bà đã biết cái mộ ấy ăn thịt người.

- Bà nói thì cháu có nghe không, hay chú mày lại nói bà già lẩm cẩm bịa chuyện để ngăn việc lớn của đàn ông trong nhà? - Bà nhìn hắn, mắt đỏ nhưng giọng rất tỉnh. - Nhà này giấu chuyện này bằng một câu chuyện đẹp đã bao nhiêu đời. Một bà già nói ngược lại câu chuyện của cả dòng họ, không ai tin đâu, Thất à. Bà chỉ mong cháu đi rồi còn đường quay lại, như ông mày ngày ấy đã quay lại được một lần. Ai ngờ chú mày nó mở toang cửa ra rồi. Tới nước này, bà không giấu nữa. Giấu nữa là giết cháu.

Bà đứng dậy, đi vào buồng trong, và trở ra với một chiếc khăn tay đã cũ. Khăn bằng vải trắng ngả màu thời gian, một góc thêu mấy bông hoa nhỏ bằng chỉ đã phai, nét thêu vụng về của một người vợ trẻ thêu cho chồng trước chuyến đi xa.

- Khăn này là của ông mày. - Bà đặt khăn vào tay hắn, và nắm chặt tay hắn trong tay mình rất lâu. - Người thoát ra được khỏi hầm ngày ấy mang về cho bà, nói ông mày đưa trước lúc quay xuống lần cuối. Bà giữ nó bốn mươi năm, không dám dùng, không dám giặt. Nay cháu mang theo. Đi trả thì trả cho đàng hoàng, cháu à. Nhận nợ thì nhận cho hết, sám hối thì sám hối cho thật lòng. Nhưng nhớ một điều của bà: đừng tham thêm một xu nào của người chết. Của người chết dưới ấy không có một xu nào là của nhà mình. Lấy thêm một thứ, nợ lại dài thêm một đời.

- Cháu không lấy gì cả, bà. - Tiểu Thất nói, và hắn nắm lại tay bà. - Cháu xuống để trả, không phải để lấy. Cháu đã nói với thầy Tố trước đống lửa rồi. Đêm nay làm lễ xong, cháu về. Cháu hứa với bà, cháu về.

Bà nhìn hắn, không nói tin hay không tin. Người đàn bà bảy mươi tám tuổi này đã tiễn chồng đi bằng đúng một lời hứa như thế bốn mươi năm trước. Bà chỉ gật đầu, rồi dặn thêm những việc nhỏ của người ở nhà: cửa nẻo bà tự lo được, thằng Ngưu hàng xóm sẽ qua ngủ nhờ mấy đêm, hương trên bàn thờ bà thắp đủ, hắn đừng lo chuyện ở nhà mà phân tâm dưới hầm.

Trước khi cháu đi, khi Tiểu Thất đã đeo ba lô lên vai và bước ra tới sân, bà bỗng gọi hắn lại và nói thêm điều cuối cùng, giọng bà hạ xuống rất khẽ như sợ gió nghe thấy.

- Còn một điều này, bà nằm mơ thấy ông mày về dặn. Trong mộ ấy, ngoài ngọc tỷ ra, còn một thứ khác không phải của để lấy. Là một tấm bia ghi món nợ của nhà mình. Ai đọc hết tấm bia ấy mà còn sống trở ra, thì họ Tạ còn có hy vọng dứt nợ. Bà không biết mơ có thật không. Bà chỉ nói lại cho cháu yên lòng.

Tiểu Thất đứng yên giữa sân, nắng chiều đã tắt gần hết sau mái nhà.

- Bà, cháu đọc hết tấm bia ấy rồi. - Hắn nói. - Cháu và thầy Tố chép trọn nó đêm qua, và cháu còn sống trở ra. Đêm nay cháu xuống là để làm theo những gì tấm bia ấy chỉ: trả cho hết, để từ đời cháu trở đi, nhà mình không còn ai phải thắp hương giấu cho một ngôi mộ nữa.

Mắt bà mở to. Rồi bà gật đầu chậm rãi, và lần này nước mắt bà rơi xuống vì một lẽ khác hẳn bốn mươi năm trước.

Hắn quay lưng đi về phía núi khi trời vừa sập tối, khăn tay của ông nội gấp gọn trong ngực áo, ngay bên cạnh cuốn giấy dầu chép văn bia, và bước chân hắn trên con đường mòn không còn run như những lần trước nữa.

Chương khác

Xem thêm