Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 12: Cửa Hang Đá Vôi Tả Phìn
Gió thốc qua khe liếp nứa, thổi bạt ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc chõng con. Mùi ẩm mốc của vách gỗ mục quyện chặt lấy thứ mùi hôi nồng, tanh…
Nội dung chương
Gió thốc qua khe liếp nứa, thổi bạt ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc chõng con. Mùi ẩm mốc của vách gỗ mục quyện chặt lấy thứ mùi hôi nồng, tanh lợm bốc ra từ hai hốc thủng hoại tử trên lồng ngực gã thợ săn họ Ban. Những con ấu trùng rết trắng nhờ vừa nghe tiếng gà gáy đã vội vã lẩn sâu vào các kẽ sườn, chừa lại lớp mỡ vàng ệch đang tiếp tục rỉ nước ròng ròng xuống manh chiếu rách.
Tôi bước lại chiếc phản gỗ nơi con gái Mười Ban đang nằm thiếp đi. Đứa nhỏ mới mười bảy tuổi đầu, khuôn mặt xanh ngắt in hằn những vết xước rách da. Do cành gai cào cấu lúc băng rừng trong đêm. Dưới làn da mỏng manh nơi thái dương nàng, những sợi gân xanh tím nổi cộm lên, chạy ngoằn ngoèo tựa hồ rễ cây bám chặt vào huyệt thái dương. Độc khí từ ngực người cha đã ngấm sâu qua từng hơi thở của đứa con gái hiếu thảo. Nếu để quá canh ba đêm mai, tà nọc ăn thủng tâm mạch, dù thần tiên giáng thế cũng đành bó tay nhìn hai cha con biến thành hai bọc nước vàng thối rữa.
Muốn cứu sống hai mạng người này, tôi buộc phải lấy được mật tươi của con rết chúa trước khi bình minh ló rạng.
Tôi với tay nhấc chiếc bát sành mẻ miệng trên giá nứa, dùng vạt áo chàm lau sạch lớp bụi dày đóng cặn bên trong. Từ trong túi vải ba đeo bên hông, tôi rút ra một bầu rượu gừng hạ thổ ba năm cay nồng mùi đất cũ. Rượu rót ra sủi bọt trắng xóa, mùi củ gừng già giã nát át đi phần nào mùi thịt thối đang quẩn quanh trong chòi nứa.
Kế đó, tôi đặt chiếc hộp gấm màu huyết dụ lên chiếc phản con đối diện bàn thờ bản thổ. Chiếc hộp gỗ lim bên trong lót lớp vải lụa đỏ đã ngả màu ố vàng vì ba mươi năm chưa từng chạm tới ánh sáng mặt trời. Khi nắp hộp bật mở, một cặp cựa sắt đen tuyền ánh lên thứ sắc lạnh chết chóc dưới bóng đèn dầu.
Đôi cựa này mang tên Huyền Thiết Câu, do chính tay cụ thân sinh tôi rèn đúc từ quặng sắt núi Vụ Bản, tôi qua máu dê đen và ngâm trong dầu trám suốt ba năm ròng rã. Chiếc cựa uốn cong hình lưỡi liềm, đầu mũi nhọn hoắt như gai bồ kết già, sống cựa dày dặn nhưng mép dưới lại được mài mỏng dính, bén ngót đến mức chỉ cần một sợi lông tơ rơi trúng cũng đứt đôi. Suốt bảy đời Kê sư họ Bùi, cặp cựa này từng xé toạc ức bao nhiêu con gà chọi lừng danh xứ Mường, từng cắm ngập vào sọ loài mãng xà khổng lồ dưới khe Thung Nai năm Cảnh Hưng thứ mười lăm.
Ba mươi năm trước, khi rời bỏ gia tộc bước chân lên đỉnh núi Trầm, tôi từng thề trước vong linh tiên tổ sẽ vĩnh viễn khóa chặt đôi cựa này dưới đáy rương, không bao giờ để bàn tay nhuốm máu loài vật thêm một lần nào nữa. Tôi từng nghĩ mình có thể làm một lão già gác núi câm lặng, ngày ngày nhìn mây trôi trên đỉnh Pha Luông cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt.
Nhưng số trời trớ trêu. Con súc sinh dưới đáy hang vôi Tả Phìn đã ép tôi vào bước đường cùng.
"Tổ tiên họ Bùi chứng giám," tôi quỳ sụp xuống sàn nứa, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau trước ngực. Tiếng tôi trầm đục, vang lên giữa bốn bề vách núi tĩnh mịch: "Hôm nay con cháu đời thứ bảy là Bùi Công Tráng, xin phá bỏ lời thề ba mươi năm. Rết chúa hại người, tà khí ngút trời, làm hại đến bạn bè thân tộc của con. Con xin mượn lại đôi cựa thiêng của dòng họ, mượn sức thần kê Xích Hỏa, cùng con quái dưới hang sâu quyết một trận tử sinh. Mong anh linh tiên tổ rủ lòng thương xót, che chở cho đôi chân thần kê không run, mỏ cày không mẻ, cựa sắt đâm trúng mắt yêu ma!"
Dứt lời, tôi rút phắt thanh dao găm cắm bên hông ra. Lưỡi thép sắc lẹm xé gió lướt qua lòng bàn tay trái của tôi một đường dứt khoát.
Một vệt máu đỏ tươi trào ra, nóng hổi. Tôi siết chặt nắm tay, để từng giọt máu đặc quánh nhỏ tong tỏng xuống bát rượu gừng. Máu tươi hòa vào men rượu cay nồng lập tức bốc lên một làn khói trắng mỏng tang, tỏa ra mùi ngai ngái xen lẫn mùi tanh nồng đặc trưng của huyết mạch người họ Bùi.
Đây là nghi lễ Huyết Thệ - bí thuật cổ xưa nhất của những Kê sư đất Mường. Bằng cách hòa máu của chính mình nuôi dưỡng chiến kê trước giờ xuất trận, tâm trí của chủ nhân và chiến kê sẽ hợp thành một thể thống nhất. Mỗi nhịp đập của quả tim người sẽ truyền thẳng vào gân cốt con vật, khiến nó cảm nhận được từng cơn giận dữ, nỗi căm hờn và sát khí tột cùng của người nuôi dưỡng.
Xích Hỏa đứng trên bắp tay tôi, đôi mắt chột bên trái phủ lớp màng trắng đục bỗng khẽ giật giật. Chiếc mỏ cày thép gõ nhè nhẹ vào cườm tay tôi, phát ra những tiếng "cọc, cọc" đều đặn. Nó ngửi thấy mùi máu. Bộ lông màu đỏ rực như than hồng trên lưng nó bắt đầu xù lên, từng sợi lông cổ dựng đứng xòe ra thành một vòng cung dữ tợn.
Tôi bưng bát rượu máu lên ngang mặt, kề sát miệng bát vào đầu mỏ của con thần kê.
"Uống đi, bạn già," tôi thì thầm, giọng khàn đặc. "Đêm nay máu của tao và mày cùng chảy. Đêm nay, nếu tao chết dưới đáy hang Tả Phìn, mày cũng đừng hòng quay lại ngọn núi Trầm này nữa."
Xích Hỏa không hề chần chừ. Chiếc mỏ sắt nhọn hoắt há rộng, cắm thẳng xuống lòng bát sành. Nó nuốt ừng ực từng ngụm rượu pha máu tươi, cổ họng phát ra những âm thanh gầm gừ trầm đục từ sâu trong lồng ngực. Rượu gừng cay xé họng cùng vị mặn chát của máu người như châm một mồi lửa vào phủ tạng con thần kê. Đôi cánh lớn của nó đập mạnh phành phạch, tạo nên những luồng gió rít xé toạc không khí gian chòi, cuốn phăng tàn tro hùng hoàng bay mù mịt.
Sau ngụm rượu cuối cùng, đáy bát sành chỉ còn trơ lại vài giọt cặn đỏ thẫm.
Đột nhiên, từ sâu bên trong hốc mắt chột bên trái của Xích Hỏa, nơi lớp màng trắng đục đã đóng kín suốt mười năm qua, một đốm lân tinh màu đỏ quạch bỗng lóe lên. Đốm sáng lập lòe như ánh than củi vùi sâu dưới tàn tro gặp gió độc, chớp tắt liên hồi rồi bùng lên thành một chấm lửa đỏ rực. Cùng lúc đó, chiếc mỏ cày thép của nó bổ thẳng xuống mặt sàn nứa cứng như đá lim.
Cốp!
Một tiếng nổ đanh gọn vang lên chấn động cả gian nhà. Mảnh nứa già nứt toác ra làm đôi dưới lực mổ kinh hồn. Âm thanh khô khốc ấy gióng lên dõng dạc, rền vang khắp bốn bề núi rừng tựa như tiếng lệnh tiễn xé gió xua quân xuất trận giữa sa trường loạn lạc. Toàn bộ sát khí ngủ vùi suốt bao năm của dòng giống gà chọi tâm linh bùng phát dữ dội, khiến không khí trong căn chòi nứa bỗng chốc trở nên ngột ngạt, đè nặng lên từng tấc da thịt.
Tôi thở hắt ra một hơi dài, đặt bát sành sang một bên rồi kéo chiếc hộp gấm lại gần.
Bàn tay phải của tôi thoăn thoắt cầm lấy cuộn dây da thuộc bản mỏng. Loại dây này được lột từ da hươu đực phơi qua chín mùa sương muối, mềm mại nhưng dẻo dai vô cùng, dù có dùng dao sắc cứa mạnh cũng khó lòng đứt đoạn. Tôi nâng chân phải của Xích Hỏa lên. Đôi chân vàng thau nổi cộm những hàng vảy rồng cứng đanh giẫm chặt vào lòng bàn tay tôi, các móng vuốt đen nhánh co quắp lại, bấu sâu vào lớp da chai sạn.
Tôi áp chiếc cựa sắt Huyền Thiết Câu vào vị trí cựa tự nhiên của nó. Đầu cong của lưỡi cựa chếch nhẹ vào phía trong, hướng thẳng vào điểm mù hiểm hóc nhất dưới cổ họng đối phương. Ngón tay tôi lướt nhẹ, bắt đầu luồn sợi dây da qua từng nếp vảy. Mỗi vòng quấn đều được siết chặt bằng một lực chuẩn xác đến từng phân, không quá lỏng để cựa bị lung lay khi va chạm vào lớp giáp cứng, cũng không quá chặt làm nghẽn mạch máu lưu thông xuống bàn chân thần kê.
"Đau một chút đấy, ráng chịu," tôi lẩm bẩm.
Xích Hỏa đứng im phăng phắc như một pho tượng đúc bằng đồng hun. Nó không hề nhúc nhích dù sợi dây da siết nghiến vào lớp thịt dưới chân. Đôi mắt đỏ rực của nó gườm gườm nhìn thẳng ra khung cửa sổ mở toang, nơi bóng tối của rặng núi Tả Phìn đang chìm ngập trong làn sương mù dày đặc.
Xong chân phải, tôi chuyển sang chân trái. Hai chiếc cựa thép đen tuyền giờ đây đã gắn chặt vào đôi chân vảy rồng, chìa ra ngoài hai mũi nhọn cong vút dài chừng bốn tấc, tỏa ra hàn khí buốt lạnh. Với cặp cựa này, một cú đá tạt ngang của Xích Hỏa có thể xé toạc lớp da lợn rừng dày cộm, nghiền nát mai rùa đá ngàn năm dưới đáy suối.
Tôi lấy vạt áo rách băng chặt vết rạch trong lòng bàn tay mình lại, đoạn quay người bước đến bên mép giường của Mười Ban.
Gã thợ săn vẫn đang nằm thở hắt ra từng cơn ngắt quãng. Lồng ngực gã phập phồng yếu ớt, làn da xám ngoét như màu tro bếp lạnh. Tôi cúi xuống, móc từ trong túi ra một nhánh củ sâm rừng ngâm mật ong rừng già, nhét sâu vào cuống họng bạn mình để gã ngậm giữ lấy chút sinh khí cuối cùng.
"Mười Ban," tôi ghé sát tai gã, cất giọng rành rọt từng tiếng một. "Nghe tao nói đây. Mày với con gái mày ráng giữ lấy hơi thở. Dù có thấy ngực buốt như kim châm, dù có thấy lục phủ ngũ tạng như bị thiêu đốt cũng tuyệt đối không được buông xuôi. Tao đi rồi tao sẽ về. Trước khi mặt trời ló rạng qua đỉnh núi Trầm, tao sẽ đem đầu con súc sinh đó về tế đất trời, lấy mật nó cứu cha con mày."
Bàn tay khẳng khiu, lạnh ngắt của Mười Ban khẽ run rẩy. Gã cố hết sức nắm lấy gấu áo tôi, những đầu ngón tay tím tái cào cào lên lớp vải thô ráp. Đôi môi nứt nẻ của gã mấp máy không thành tiếng, nhưng từ khóe mắt mờ đục rỉ ra hai giọt lệ đục ngầu lăn dài qua gò má hốc hác. Gã hiểu lời tôi nói. Một người bạn săn cùng lớn lên trên mảnh đất Sơn Nam Thượng này hiểu rằng lời hứa của một Kê sư họ Bùi nặng tựa ngàn cân đá núi.
Tôi gạt nhẹ tay bạn ra, kéo tấm chăn chàm đắp kín lên ngực gã, che đi hai miệng hốc ghê rợn đang bốc mùi tử khí. Quay sang đứa con gái đang mê man, tôi đặt một nhánh ngải cứu khô lên trán nàng để ngăn chặn bớt phần nào tà độc đang xông lên não bộ.
Làm xong tất cả, tôi đứng thẳng lưng dậy. Cột sống già nua năm mươi tám tuổi của tôi kêu lên răng rắc sau một ngày dài gồng mình chống chọi với hiểm nguy. Nhưng kỳ lạ thay, cảm giác mệt mỏi rệu rã dường như biến mất hoàn toàn. Máu nóng trong người tôi đang sôi lên sùng sục theo từng nhịp đập của tim mạch. Ngọn lửa sát khí từng bị chôn vùi suốt ba thập kỷ dưới lớp tro tàn hèn nhát giờ đây đã bùng cháy rực rỡ trở lại trong đáy mắt.
Tôi thắt chặt lại đai lưng gai, dắt con dao găm vào hông, tay trái cầm theo chiếc xẻng sắt ngắn chuyên dùng đào rễ cây, tay phải vỗ nhẹ lên vai.
Xích Hỏa khẽ nhún mình, đôi cánh dang rộng rồi đáp gọn gàng lên bờ vai vạm vỡ của tôi. Đôi móng vuốt bọc sắt bấm chặt vào lớp áo chàm dày, vững chãi như một mỏm đá mọc trên sườn núi.
Tôi bước những bước dài dứt khoát ra khỏi bậu cửa nhà sàn.
Bên ngoài, màn đêm đen đặc như mực tàu bao trùm lấy khắp bản Tả Phìn. Mưa rừng đã ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt nước đọng trên ngọn cây thỉnh thoảng rớt xuống lộp độp trên lớp lá mục. Nhưng thay cho tiếng mưa rơi là một luồng gió chướng lạnh buốt xương tủy từ thung lũng thổi ngược lên. Gió mang theo thứ sương độc nhờ nhờ màu lam nhạt, nồng nặc mùi vôi sống đang sôi sục dưới lòng đất và mùi tanh tưởi của nọc rết ngàn năm.
Cả bản làng chìm trong sự im lìm chết chóc. Không một tiếng chó sủa, không một tiếng côn trùng rả rích dưới bụi bờ. Những ngôi nhà sàn xung quanh đều đóng chặt cửa liếp, người dân bên trong đang co ro cầu khẩn thần rừng phù hộ trước tai ương giáng xuống bản mường.
Dưới chân tôi, con đường mòn dẫn sâu vào hẻm núi đá vôi hiện ra lờ mờ dưới ánh lân tinh mờ ảo bốc lên từ đám rêu mục. Miệng hang Tả Phìn nằm ở tận cùng thung lũng đá, nơi có những vách đá vôi dựng đứng sắc như lưỡi rìu, sâu hun hút không thấy đáy.
Tôi hít một hơi thật sâu làn không khí lạnh buốt xen lẫn độc khí nồng nặc, siết chặt cán dao găm trong tay.
"Đi thôi, Xích Hỏa."
Tôi bước nhanh xuống dốc đá trơn trượt. Bóng dáng một người đàn ông già nua cùng con gà chọi chột mắt mang đôi cựa sắt đen nhánh hòa vào làn sương độc mờ mịt, tiến thẳng về phía bóng tối sâu thẳm của miệng hang rết chúa, nơi trận tử chiến một mất một còn đang chờ đợi ở phía trước.