Khế Ước Sinh Tử: Ta Cược Cả Tu Tiên Giới - Chương 224: Khế Ước Khai Triều Cửu Vực
Đêm ấy, trong thư phòng Bách Nghệ Phường, bốn người ngồi quanh chiếc bàn đá. Trên bàn là tàn văn sao lục và mảnh mai rùa gốc khắc hai chữ cống nạp, đặt…
Nội dung chương
Đêm ấy, trong thư phòng Bách Nghệ Phường, bốn người ngồi quanh chiếc bàn đá. Trên bàn là tàn văn sao lục và mảnh mai rùa gốc khắc hai chữ cống nạp, đặt cạnh nhau dưới ánh đèn dầu. Ngoài Lục Tri Vi, Du Thính, Hồ Bất Quy, còn có Thiết Lão Tam được mời đến vì lão là người đọc chữ cổ giỏi nhất phường.
- Ta đã đối chiếu nét khắc, Thiết Lão Tam nói, tay cầm kính lúp bằng đồng, mắt dán vào mảnh mai rùa. Nét khắc này đúng là thủ pháp thời khai triều, một nhát là một nhát, không sửa, không tô. Người khắc là thợ khế văn của triều đình, tay nghề thuộc hàng bậc thầy.
Lục Tri Vi trải tàn văn ra, bắt đầu giải mã từng đoạn. Công việc này đòi hỏi sự kiên nhẫn của một điển khế lão luyện, và hắn có thừa. Hắn đọc đi đọc lại, thỉnh thoảng lại đối chiếu với mảnh mai rùa, ghi chép từng chữ ra giấy.
Dần dần, bức tranh tám trăm năm trước hiện ra.
Thời khai triều, Đại Huyền Triều vừa thống nhất chín vực. Vùng cửa sông Hắc Thủy quanh năm lũ lụt, mỗi mùa mưa nước từ thượng nguồn đổ về, tràn qua cửa sông nhấn chìm hàng vạn mẫu ruộng của Xích Đồng Vực ở phía tây. Sử sách ghi lại có năm lũ lớn, nước ngập đến tận chân thành Đồng Quan, dân chết đói đầy đường.
Triều đình hạ lệnh trị thủy. Xích Đồng Vực là vực chịu thiệt hại nặng nhất nên cũng là vực bỏ ra nhiều nhất: mười vạn dân phu đắp một bãi bồi khổng lồ ở cửa sông để chặn lũ, công trình kéo dài mười năm, tốn không biết bao nhiêu nhân lực vật lực. Bãi bồi ấy cao như một quả đồi nhỏ, chắn ngang dòng lũ, từ đó Xích Đồng Vực mới có được những cánh đồng lúa linh tươi tốt.
Để cảm tạ và cũng để duy trì công trình, chín vực cùng lập Cửu Vực Cộng Tế Khế. Trong khế ước, Xích Đồng Vực hứa mỗi năm dâng ba phần khí vận thu hoạch được cho vực giữ cửa sông, để vực này dùng khí vận nuôi dưỡng công trình thủy lợi, bảo vệ cửa sông không bị lũ phá. Chữ ký của vực chủ Xích Đồng Vực đời đầu, của đại diện tám vực còn lại, và ấn chứng của thiên địa, đều còn nguyên trong tàn văn.
Thiết Lão Tam đọc đến đoạn ghi công trình, không khỏi thở dài.
- Mười vạn dân phu, mười năm đắp bãi. Xương máu của người Xích Đồng Vực đổ xuống mới có cửa sông yên ổn. Vậy mà tám trăm năm sau, con cháu kẻ trông coi lại dùng chính khế ước này để rút khí vận của con cháu người đắp bãi. Đúng là trò đời đảo điên.
- Nghĩa là ban đầu, đây là một khế ước tốt, Tô Ngưng nói. Nàng vừa từ điểm chữa bệnh về, nghe được nửa câu chuyện. Xích Đồng Vực bỏ công đắp bãi bồi, rồi dùng khí vận nuôi công trình, hợp tình hợp lý. Người lập khế hẳn không ngờ tám trăm năm sau lại có kẻ lợi dụng.
- Đúng, Lục Tri Vi gật đầu. Vấn đề là ở hai chữ giữ cửa sông. Tám trăm năm trước, người giữ cửa sông là ai?
Cả phòng im lặng. Hồ Bất Quy gõ nhẹ lên bàn.
- Để ta nói những gì ta dò được. Tám trăm năm trước, Hắc Thủy Vực còn chưa thành hình như bây giờ. Vùng cửa sông lúc ấy là bãi bồi hoang do Xích Đồng Vực đắp lên, triều đình phái một đội quân đồn trú ở đó để trông coi công trình, tướng cầm đầu họ Huyền, là tổ tiên xa của Huyền Minh Hầu ngày nay. Đội quân ấy dần dần định cư, cưới vợ sinh con, khai khẩn đất hoang quanh bãi bồi, mấy trăm năm sau mới lập thành Hắc Thủy Vực như ngày nay. Từ đời nào đó, con cháu họ Huyền không còn tự xưng là người trông coi hộ nữa, mà xưng là vực chủ giữ cửa sông. Mà tổ tiên của Huyền Minh Hầu, chính là tướng quân đồn trú đời đầu.
Thiết Lão Tam vỗ đùi đánh đét.
- Hiểu rồi. Bãi bồi là do Xích Đồng Vực đắp, người giữ ban đầu chỉ là lính triều đình trông coi hộ. Vậy mà con cháu của lính trông coi, tám trăm năm sau lại xưng là chủ nhân cửa sông, đòi hưởng ba phần khí vận cống nạp. Đúng là ăn cháo đá bát. Giữ hộ thành giữ thật, trông coi công trình của người ta, trông mãi rồi coi như của mình.
- Không đơn giản vậy, Lục Tri Vi lắc đầu. Khế ước viết là vực giữ cửa sông, không viết tên họ Huyền. Nếu Hắc Thủy Vực ngày nay được công nhận là vực giữ cửa sông, thì về mặt chữ nghĩa, Huyền Minh Hầu vẫn đúng. Người lập khế tám trăm năm trước, trong đầu nghĩ đến đội quân đồn trú đang ngày đêm trông coi bãi bồi, nhưng tay họ viết ra chỉ có bốn chữ vực giữ cửa sông. Bốn chữ này, tám trăm năm sau, ai ngồi ở cửa sông thì người đó hưởng. Thiên địa chỉ chứng chữ, không chứng ý. Ý định ban đầu của người lập khế là thưởng cho người có công trị thủy, nhưng chữ viết ra thì không nói vậy.
- Vậy là hắn không sai? Hồ Bất Quy nhíu mày.
- Về chữ, hắn không sai, Lục Tri Vi đáp, giọng nặng nề. Đó mới là chỗ đáng sợ. Một khế ước ác, nhưng mọi chữ đều đúng, thì không ai làm gì được hắn. Trừ phi...
- Trừ phi gì?
- Trừ phi chúng ta chứng minh được, người giữ cửa sông thật sự không phải Hắc Thủy Vực. Hoặc chứng minh được, điều kiện hưởng cống nạp đã hết hiệu lực.
Hắn cúi xuống đọc lại tàn văn lần nữa, mắt sáng lên khi đến một đoạn chữ mờ. Hắn đưa kính lúp cho Thiết Lão Tam.
- Lão Tam, xem đoạn này. Chữ gì đây?
Thiết Lão Tam nheo mắt đọc một lúc lâu, rồi ngẩng lên, giọng run run.
- Đoạn này mờ lắm, nhưng ta đọc được mấy chữ: cho đến khi sông cạn. Nghĩa là việc cống nạp khí vận chỉ kéo dài cho đến khi sông cạn.
Cả phòng ồ lên. Đây là một điều khoản giới hạn thời gian mà bản sao trước đây không ai để ý vì chữ quá mờ.
Tô Ngưng chau mày hỏi:
- Chữ tế trong tên khế ước là tế trời, nghĩa là khế này còn mang tính tế lễ. Khí vận cống nạp, theo lễ chế xưa, là vật dâng lên để cầu phúc cho công trình. Nếu công trình không còn cần nuôi dưỡng nữa, lễ cống có còn ý nghĩa không?
- Câu hỏi hay, Lục Tri Vi gật đầu. Người xưa lập khế tế trời, vật cống nạp phải dùng đúng mục đích tế lễ. Huyền Minh Hầu lấy khí vận cống nạp để nuôi ruộng lúa nhà hắn, nuôi kho lương phủ hắn, đó đã là dùng sai mục đích. Nhưng tiếc là khế văn không ghi rõ mục đích sử dụng, chỉ ghi hưởng ba phần khí vận cống nạp. Về chữ, hắn vẫn đúng.
- Sông cạn, Hồ Bất Quy lẩm bẩm. Sông Hắc Thủy tám trăm năm nay chưa từng cạn. Điều kiện này coi như không bao giờ xảy ra. Người lập khế khôn thật, viết một điều kiện không thể xảy ra để khế ước hiệu lực vĩnh viễn.
Lục Tri Vi lại lắc đầu, ánh mắt sắc như dao.
- Chưa chắc. Các ngươi nghĩ xem, sông Hắc Thủy có cạn bao giờ không? Không. Nhưng khế viết cho đến khi sông cạn, chứ không viết cho đến khi sông Hắc Thủy cạn. Sông ở đây, có thể hiểu là dòng chảy ở cửa sông, là thủy thế của vùng cửa sông. Tám trăm năm bãi bồi bồi lấp, dòng chảy đổi hướng, cửa sông năm xưa chưa chắc còn là cửa sông ngày nay. Nếu thủy thế cửa sông gốc đã thay đổi đến mức không còn nhận ra, thì có tính là sông đã cạn theo nghĩa của người lập khế không?
Thiết Lão Tam há hốc mồm.
- Ngươi định cãi với thiên địa về nghĩa của chữ sông?
- Thiên địa chỉ chứng chữ, Lục Tri Vi mỉm cười. Mà chữ thì có nhiều nghĩa. Người lập khế không định nghĩa sông là gì, thì ta có quyền diễn giải theo hướng có lợi cho Xích Đồng Vực. Đây chính là con dao hai lưỡi của khế ước: Huyền Minh Hầu dùng nó để rút khí vận của ta, ta cũng có thể dùng nó để cắt đứt vòi bạch tuộc của hắn.
Hồ Bất Quy nhìn Lục Tri Vi, bỗng rùng mình. Hắn đi buôn tin tức khắp chín vực, gặp không biết bao nhiêu kẻ xảo quyệt, nhưng kẻ dám cãi chữ với thiên địa, đây là lần đầu hắn thấy.
- Ngươi điên rồi, hắn nói, nhưng giọng đầy thán phục. Nhưng ta thích. Ván cược này, ta theo đến cùng.
Hắn đứng dậy, đi đến bên bản đồ treo tường, chỉ vào vùng cửa sông Hắc Thủy.
- Ngày mai, chúng ta phải đến tận nơi xem. Ta muốn biết bãi bồi tám trăm năm trước bây giờ ra sao, cửa sông bây giờ ở đâu, và phủ Huyền Minh Hầu xây trên nền đất nào.
Đêm đã khuya, mọi người tản đi. Lục Tri Vi ở lại một mình, tiếp tục đối chiếu mảnh mai rùa với tàn văn. Hắn phát hiện nét khắc hai chữ cống nạp trên mai rùa có độ sâu đồng đều, chứng tỏ được khắc một lần duy nhất, không phải khắc thêm sau. Điều đó có nghĩa hai chữ này thuộc về văn bản gốc, không ai có thể chối cãi.
Bỗng nhiên, hắn nhớ đến lời Hồ Bất Quy nói trên bến sông đêm qua. Hắn lẩm bẩm một mình:
- Người giữ cửa sông bây giờ, chính là Huyền Minh Hầu của Hắc Thủy Vực.
Hắn lặp lại câu nói ấy mấy lần, mỗi lần một giọng điệu khác nhau. Rồi hắn chợt mỉm cười, một nụ cười lạnh lùng của kẻ đã nhìn thấy đường đi trong mê cung chữ nghĩa.
- Giữ cửa sông, hắn nói khẽ. Được, vậy chúng ta sẽ xem, ai mới thật sự là người giữ cửa sông.
Ngoài kia, trăng đã lên cao. Ánh trăng chiếu lên mảnh mai rùa, hai chữ cống nạp như đang cười, cười một nụ cười đã chờ đợi tám trăm năm để có người đọc hiểu.