Khế Ước Sinh Tử: Ta Cược Cả Tu Tiên Giới - Chương 229: Lão Ngư Dân Trăm Tuổi
Sáng sớm hôm sau, Hồ Bất Quy dẫn cả nhóm ra cửa sông Hắc Thủy. Hắn đã cho người dò la từ đêm qua, tìm được một lão ngư dân sống ở làng chài ven cửa sông,…
Nội dung chương
Sáng sớm hôm sau, Hồ Bất Quy dẫn cả nhóm ra cửa sông Hắc Thủy. Hắn đã cho người dò la từ đêm qua, tìm được một lão ngư dân sống ở làng chài ven cửa sông, năm nay đã ngoài trăm tuổi, là người già nhất vùng, nghe nói còn nhớ chuyện ông cố kể lại từ thời xa xưa.
Làng chài nằm nép mình bên bờ sông, vài chục nóc nhà tranh lụp xụp, lưới cá phơi đầy sân. Dân làng thấy đoàn người lạ thì tò mò nhìn, nhưng khi Hồ Bất Quy xưng danh và đưa ra một túi linh thạch nhỏ, họ lập tức nhiệt tình dẫn đường.
Lão ngư dân tên là Lão Ngư Đầu, tóc bạc trắng, lưng còng, mắt đã mờ nhưng tai còn thính. Lão ngồi trên chiếc ghế tre trước cửa nhà, tay lần tràng hạt bằng xương cá, nghe Hồ Bất Quy trình bày mục đích đến thì im lặng một lúc lâu.
- Các vị muốn hỏi chuyện tám trăm năm trước? Lão cười khành khạch. Ta mới sống có trăm năm, làm sao biết chuyện tám trăm năm?
- Lão cứ kể những gì ông cố của lão kể lại, Lục Tri Vi nói, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh, thái độ rất khiêm tốn. Một câu cũng quý.
Lão Ngư Đầu nhìn chàng trai trẻ trước mặt, thấy ánh mắt chân thành, bèn gật đầu.
- Được, ta kể. Ông cố ta là ngư dân đời thứ... không nhớ nữa, chỉ nhớ ông ấy kể rằng, vùng cửa sông này tám trăm năm trước không như bây giờ. Hồi ấy, đây là một bãi bồi lớn, do người Xích Đồng Vực đắp lên để chặn lũ. Bãi bồi cao như đồi, trên đó còn dựng một cái miếu thờ thần sông.
- Miếu thờ thần sông? Tạ Vãn Thư hỏi.
- Đúng, lão gật đầu. Ông cố ta kể, mỗi năm người Xích Đồng Vực đều đến tế lễ ở miếu ấy, cầu cho bãi bồi vững chắc, cửa sông yên ổn. Lễ tế lớn lắm, có rước kiệu, có thả đèn sông, dân chài chúng ta cũng được hưởng lộc. Còn người Hắc Thủy lúc ấy... lúc ấy chưa có Hắc Thủy Vực, chỉ có một đội lính triều đình đóng ở bãi bồi để trông coi. Dân chài chúng ta gọi họ là người giữ hộ, vì họ chỉ giữ hộ bãi bồi cho người Xích Đồng Vực, chứ bãi bồi không phải của họ.
Lão Ngư Đầu kể thêm, giọng đầy tiếc nuối: miếu thần sông tồn tại mấy trăm năm, hương khói không dứt. Nhưng đến đời Huyền Minh Hầu, hắn cho người phá miếu để lấy đất xây điện nước, nói là miếu cũ kỹ không xứng với phủ Hầu gia. Dân chài phản đối, bị lính đánh cho một trận, từ đó không ai dám nhắc đến miếu nữa.
- Phá miếu thần sông để xây điện nước hưởng lạc, Thiết Lão Tam nghiến răng. Loại người này mà cũng đòi hưởng khí vận cống nạp, thiên địa không có mắt sao?
- Thiên địa có mắt, nhưng mắt thiên địa chỉ nhìn chữ, Lục Tri Vi nói khẽ. Đó mới là bi kịch.
Trong lúc mọi người nói chuyện, Du Thính lặng lẽ đi ra bờ sông, đặt tay xuống mặt đất, lắng nghe rung động. Một lúc sau, chàng quay lại, ra hiệu với Lục Tri Vi: dưới lớp đất mặt, chàng cảm nhận được một kết cấu đất đắp nhân tạo rất lớn, kéo dài hàng dặm, đúng là nền của một bãi bồi cổ. Mà hướng kéo dài của bãi bồi, lại chếch về phía nam, không trùng với dòng chảy hiện tại của cửa sông.
Lục Tri Vi mắt sáng lên. Điều này chứng tỏ cửa sông đã dời hướng so với tám trăm năm trước, bãi bồi gốc giờ nằm lệch khỏi dòng chảy chính. Đây chính là bằng chứng thực địa cho lập luận sông đã đổi của hắn.
Cả nhóm nhìn nhau, ánh mắt sáng lên. Lời kể của lão ngư dân khớp hoàn toàn với những gì họ suy đoán.
- Về sau thì sao ạ? Lục Tri Vi hỏi tiếp.
- Về sau, đội lính ấy ở lâu thành quen, cưới vợ sinh con, dần dần đông lên. Họ bắt đầu khai khẩn đất hoang quanh bãi bồi, lập làng, lập chợ. Mấy trăm năm sau, triều đình phong cho con cháu tướng lĩnh họ Huyền làm vực chủ, lập ra Hắc Thủy Vực. Từ đó, họ không còn tự xưng là người giữ hộ nữa, mà xưng là chủ nhân cửa sông.
Lão Ngư Đầu ngừng lại, ho khù khụ một trận, rồi nói tiếp, giọng đầy cảm khái.
- Dân chài chúng ta thì vẫn gọi như cũ. Trong mắt chúng ta, họ vẫn là người giữ hộ, chỉ là giữ hộ lâu quá, quên mất mình là ai.
Thiết Lão Tam vỗ đùi.
- Nói hay lắm, lão trượng. Giữ hộ lâu quá quên mất mình là ai, đúng là bản chất của cha con họ Huyền.
Lục Tri Vi lại hỏi:
- Lão có biết bãi bồi tám trăm năm trước bây giờ ở đâu không?
Lão Ngư Đầu run run đứng dậy, chống gậy đi ra bờ sông, chỉ tay về phía một gò đất cao ở xa, nơi phủ Huyền Minh Hầu đang sừng sững tọa lạc.
- Bãi bồi ấy, chính là nền đất phủ Hầu gia đang xây bây giờ. Tám trăm năm bồi lấp, bãi bồi cao dần, rộng dần, thành gò đất. Con cháu họ Huyền thấy đất tốt, bèn xây phủ lên trên. Miếu thờ thần sông năm xưa, nghe nói bị họ phá đi để lấy đất xây điện nước.
Cả nhóm sững sờ. Lục Tri Vi nhìn về phía phủ Hầu gia xa xa, trong lòng dấy lên một cơn sóng lớn.
Bãi bồi do Xích Đồng Vực đắp, tám trăm năm sau thành nền đất phủ Hầu gia. Người giữ hộ tám trăm năm trước, tám trăm năm sau thành chủ nhân, ngồi trên chính mảnh đất của người ta đắp, rồi dùng khế ước của người ta để rút khí vận của người ta. Trên đời còn có chuyện trơ trẽn hơn thế không?
- Lão trượng, Tạ Vãn Thư hỏi, giọng hơi run. Lời lão kể, có ai khác chứng thực không? Có văn tự nào ghi lại không?
Lão Ngư Đầu lắc đầu.
- Dân chài chúng ta không biết chữ, chỉ truyền miệng. Nhưng cả làng chài này, ai cũng kể như vậy. Các vị không tin thì hỏi bất kỳ ai.
Hồ Bất Quy lập tức cho người đi hỏi mấy hộ dân chài khác, quả nhiên ai cũng kể một câu chuyện tương tự: bãi bồi do Xích Đồng Vực đắp, người Hắc Thủy chỉ là người giữ hộ.
Trên đường về, đoàn người đi ngang qua một trạm gác của phủ Hầu gia. Mấy tên lính thấy đoàn lạ mặt thì chặn lại hỏi han, thái độ hống hách. Hồ Bất Quy nhanh trí xưng là thương nhân buôn tin tức đi khảo sát đường thủy để mở tuyến buôn mới, còn dúi cho tên đội trưởng một túi linh thạch nhỏ. Tên đội trưởng cân túi linh thạch, cười hề hề cho qua, còn nhiệt tình chỉ đường.
- Thấy chưa, Hồ Bất Quy nói sau khi đi khỏi. Lính của Hầu phủ chỉ biết tiền, không biết luật. Loại quân đội này mà cũng đòi giữ cửa sông, nực cười.
Cả nhóm im lặng. Bằng chứng truyền miệng này tuy không có giá trị pháp lý trước thiên địa, nhưng lại vô cùng quý giá về mặt đạo lý. Nó chứng minh Huyền Minh Hầu đang ngồi trên đất của người khác, hưởng khí vận của người khác, mà còn ra vẻ chính đáng.
Về đến khách điếm, Hồ Bất Quy còn mang về một tin nữa: hắn đã cho người mua chuộc một thư lại trong phủ Hầu gia, lấy được bản đồ địa hình cũ của vùng cửa sông vẽ từ hai trăm năm trước. Trên bản đồ, dòng chảy chính của cửa sông lúc ấy vẫn còn đi qua phía nam gò đất, tức là bãi bồi gốc vẫn còn nằm trong dòng chảy. Nhưng bản đồ mới nhất, dòng chảy đã dời hẳn về phía bắc, bãi bồi gốc giờ nằm ngoài dòng chảy chính.
- Hai trăm năm mà dòng chảy đã dời như vậy, tám trăm năm thì còn dời đến đâu, Hồ Bất Quy nói. Lục Tri Vi, lập luận sông đã đổi của ngươi, có bằng chứng rồi đấy.
- Tiếc là thiên địa chỉ chứng chữ, Tạ Vãn Thư thở dài. Lời kể của dân gian, dù đúng đến mấy, cũng không thắng được chữ trên khế.
- Ta biết, Lục Tri Vi đáp. Nhưng Tạ chấp luật, nàng nghĩ xem: nếu chúng ta lập một khế ước mới, để dân hai vực cùng làm chứng, thì lời kể của dân gian có thành chữ được không?
Tạ Vãn Thư sững sờ nhìn hắn.
- Ngươi định...
- Ta chưa định gì cả, Lục Tri Vi mỉm cười. Nhưng ta đã thấy đường. Bãi bồi là nền phủ Hầu gia, người giữ hộ thành chủ nhân, chữ sông có thể diễn giải. Ba mảnh ghép này, đủ để ta viết một khế ước mới.
Hắn quay lại nhìn cửa sông một lần nữa. Dòng nước đen vẫn chảy, gò đất phủ Hầu gia vẫn sừng sững. Nhưng trong mắt hắn, tất cả đã khác. Hắn đã nhìn thấy kẽ hở, không phải một, mà là ba.
Đêm ấy, trong khách điếm, Lục Tri Vi viết vào sổ tay ba dòng:
Một, bãi bồi tám trăm năm là nền phủ Hầu gia, đất của Xích Đồng Vực.
Hai, người giữ cửa sông gốc chỉ là người giữ hộ, thân phận đã đổi.
Ba, chữ sông trong điều khoản kết thúc có thể diễn giải lại.
Hắn gạch dưới ba dòng, rồi viết thêm một dòng thứ tư: cần một khế ước mới, trùm lên khế cổ, khiến Huyền Minh Hầu tự nguyện ký.
Bên ngoài, trăng đã lên. Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến đêm rằm, đêm của vụ thu hoạch cuối cùng. Lục Tri Vi biết, hắn phải nhanh hơn, nhanh hơn cả thời gian. Hắn thổi tắt đèn, nhưng trong đầu ba dòng chữ vẫn sáng rực như lửa, soi rõ con đường phía trước đầy chông gai. Ngoài kia, gió đêm thổi qua những cánh đồng khô héo, mang theo mùi đất nứt nẻ. Lục Tri Vi siết chặt nắm tay, thề rằng dù phải trả giá đắt đến đâu, hắn cũng sẽ khiến những kẻ đã cướp mùa màng của dân phải trả giá gấp bội.