Họa Linh Tỳ Bà - Chương 30: Lên Thanh Vân Quán
Người giới thiệu Diệp Tử Minh lên Thanh Vân Quán không phải một người, mà là hai người, và cả hai đều phải suy nghĩ rất lâu mới chịu mở miệng. Người thứ…
Nội dung chương
Người giới thiệu Diệp Tử Minh lên Thanh Vân Quán không phải một người, mà là hai người, và cả hai đều phải suy nghĩ rất lâu mới chịu mở miệng.
Người thứ nhất là Mã Vĩnh Quý. Sau buổi sáng làm chứng cứu Tử Minh ở nhà họ Ngô, ông già bán tranh đã coi cậu như một đứa cháu nghề nghiệp cần được giúp tới cùng. Nghe cậu nói muốn tìm một đạo sĩ có truyền thừa thật sự, Mã Vĩnh Quý im lặng hút hết một điếu thuốc dài mới nói: ở ngoại thành Bắc Kinh có một đạo quán nhỏ tên là Thanh Vân Quán, trong quán có một vị chân nhân họ gọi là Huyền Dương, người của phái Mao Sơn. Ông năm nay gần sáu mươi tuổi, học nghề từ nhỏ, cả đời chỉ làm hai việc là trừ tà cho dân lành và siêu độ cho người chết oan. Ông không nhận tiền của nhà giàu để làm lễ khoe khoang, cũng không tới những nhà mời vì tò mò. Muốn mời được ông ấy, không dựa vào tiền, mà dựa vào việc câu chuyện của mình có thật hay không, và người tới mời có thành tâm hay không.
Người thứ hai là Thôi ma ma. Bà từng hầu trong phủ vương gia, quen biết Thanh Vân Quán từ thời quán còn là nơi các phủ đệ lớn gửi lễ siêu độ cho người làm chết oan trong nhà. Bà viết cho Tử Minh một lá thư tay ngắn, chữ viết run của người già ít học, nhờ cậu mang theo làm tin, trong thư chỉ có mấy dòng: kính gửi Huyền Dương chân nhân, nhà họ Tiêu có một việc oan khuất liên quan tới một người phụ nữ chết oan trong cung ngày xưa, xin chân nhân nể tình người chết mà tới xem một lần. Bà dặn cậu: tới nơi phải quỳ mà trình bày, không được nói dối một chữ, đạo sĩ thật nhìn người là biết ngay trong lòng có giấu giếm gì không.
Sáng sớm hôm sau, Tử Minh dậy từ lúc trời chưa sáng, mang theo lá thư của Thôi ma ma, cuốn sổ theo dõi đã bọc vải cẩn thận, một ít tiền lộ phí dành dụm từ tiền công học việc nhiều tháng, và đi bộ ra cửa thành phía tây, thuê một chiếc xe lừa chở khách đường dài tới chân núi nơi có Thanh Vân Quán.
Thanh Vân Quán nhỏ hơn cậu tưởng rất nhiều. Nó không giống những chùa quán lớn trong thành với cổng tam quan sơn son và sân rộng lát gạch. Nó chỉ là một quần thể nhà ngói cũ nép vào sườn núi, tường đất đã loang lổ, trước sân có một cây tùng già và một lư hương bằng đá lúc nào cũng tỏa khói mỏng, dù không có lễ lạt gì. Không khí ở đó tĩnh lặng tới mức tiếng bước chân của cậu trên lá khô cũng nghe rõ mồn một. Một đạo sĩ trẻ ra đón khách, nghe cậu trình bày ý định, lắc đầu ngay.
- Chân nhân nhà tôi không tiếp khách xem tranh xem đồ. Mấy năm nay người trong thành lên đây nhờ xem phong thủy nhà, xem đồ cổ có tà khí hay không thì nhiều, chân nhân đều từ chối hết. Ông nói đồ cổ là việc của thợ giám định, không phải việc của đạo sĩ. Cậu về đi, đừng mất công chờ.
Tử Minh không về. Cậu quỳ xuống trước sân quán, đặt lá thư của Thôi ma ma và cuốn sổ theo dõi lên bậc đá, nói rõ ràng với người đạo sĩ trẻ: xin chuyển lời vào trong rằng tôi là học trò của tiệm Vinh Bảo Trai ở phố Liễu Ly Xưởng, sư phụ tôi đang chết dần vì một bức tranh, tôi tới đây không nhờ xem đồ cổ, tôi tới nhờ cứu một người sống và nghe một người chết oan. Nếu chân nhân nghe xong vẫn từ chối, tôi sẽ xuống núi ngay, không làm phiền quán nữa.
Cậu quỳ ở sân suốt một canh giờ. Đầu gối đau nhức trên nền đá lạnh, sương núi thấm ướt vạt áo, những người trong quán đi qua đi lại không ai nói với cậu một lời. Cuối cùng, cửa gian nhà chính ở phía trong khẽ mở, và một người đàn ông cao gầy bước ra, mặc đạo bào màu chàm đã bạc, tóc búi cao, râu điểm bạc, tuổi gần sáu mươi nhưng lưng vẫn thẳng, mắt sáng và sâu một cách lạ thường. Đó là Huyền Dương chân nhân. Ông không đỡ cậu dậy. Ông cầm lá thư của Thôi ma ma lên đọc trước, rồi cầm cuốn sổ theo dõi, lật từng trang, đọc rất chậm, thỉnh thoảng dừng lại ở một trang nào đó rất lâu, như trang ghi ba đêm máu rỉ theo lịch trăng, trang ghi quy luật ba kỳ rằm, trang ghi hai mươi ba tờ giấy vẽ mặt mỹ nhân. Đọc xong, ông khép sổ lại, nhìn Tử Minh đang quỳ, giọng trầm và rõ.
- Những điều trong sổ này, đều là cậu tận mắt thấy và tự tay ghi.
- Dạ, đều là con tận mắt thấy. Phần nào nghe người khác kể, con đều ghi rõ là nghe kể, không dám ghi lẫn vào phần tận mắt thấy.
- Sư phụ cậu có biết cậu lên đây không.
- Dạ không. Tử Minh cúi đầu, nói thật như lời Thôi ma ma dặn. Con giấu thầy con tới đây. Con biết đây là tội qua mặt sư phụ. Nhưng thầy con không còn tỉnh táo để cho phép hay từ chối nữa. Nếu chờ thầy con đồng ý mới đi mời chân nhân, thì e là không còn kịp trước đêm rằm này.
Huyền Dương im lặng hồi lâu, rồi lắc đầu chậm rãi.
- Việc nhà người khác, ta không tự ý xen vào khi chủ nhà chưa mời. Hơn nữa, những chuyện tranh cổ sinh tà, mười việc có tới chín là do người sống tự dọa mình vì tham lam và mất ngủ. Ta không xuống núi chỉ vì một cuốn sổ của một học trò lo lắng quá mức. Cậu về đi. Bảo sư phụ cậu bán bức tranh ấy đi, rời nhà một thời gian, ăn ngủ điều độ, tự khắc sẽ khá hơn.
Đó là một lời từ chối rõ ràng, và Tử Minh biết mình không còn gì để níu kéo nữa ngoài sự thật cuối cùng trong hồ sơ mà cậu chưa nói ra, cái tên mà cậu đã giữ kín suốt buổi trình bày vì sợ nói ra quá sớm sẽ làm mọi chuyện nghe như truyện ma đầu phố. Cậu ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Huyền Dương, nói chậm rãi từng chữ.
- Thưa chân nhân, người trong tranh đã tự xưng tên với hai đời chủ, cách nhau mấy chục năm, cùng một họ, cùng một tên. Họ Thẩm, tên Ngọc Thiền. Bà ấy là ca kỹ trong cung thời Đồng Trị, bị ban lụa trắng năm một nghìn tám trăm sáu mươi chín, bị chôn trong đêm cùng cây tỳ bà của mình.
Gió núi thổi qua sân quán, khói trong lư hương đá bỗng chao đi một nhịp. Huyền Dương đứng lặng hồi lâu, cuốn sổ theo dõi trong tay ông hơi run lên, một cái run rất khẽ mà Tử Minh quỳ ở dưới nhìn thấy rõ. Rồi ông quay người đi vào trong nhà, không nói một lời, để cậu quỳ lại một mình giữa sân, không biết số phận chuyến đi này sẽ ra sao. Một lúc lâu sau, ông trở ra, trên tay không còn cuốn sổ nữa, mà là một chiếc túi vải dài, bên trong lấp ló một vật tròn bọc trong vải đỏ và một cuộn chỉ đỏ mới nguyên. Ông đỡ Tử Minh đứng dậy bằng cánh tay khô gầy mà chắc chắn lạ thường, giọng đã đổi hẳn, không còn là giọng từ chối khách nữa, mà là giọng của một người đã nhận một việc không thể từ chối.
Trên đường xuống núi cùng Huyền Dương, Tử Minh mới được nghe ông nói thêm vài điều về nghề của mình, những điều cậu ghi vội vào sổ tay trên chiếc xe lừa lắc lư suốt quãng đường dài về thành. Huyền Dương nói, phái Mao Sơn của ông không coi mọi oan hồn đều là tà ma phải đánh tan. Có những hồn chỉ cần được siêu độ. Có những hồn cần được nghe hết câu chuyện rồi mới chịu đi. Và có những trường hợp nguy hiểm nhất, là khi hồn người chết không trú ngụ tự do, mà bị giam chặt vào một vật gì đó của chính mình khi còn sống, không đi được, không tan được, chỉ có thể lặp đi lặp lại một khúc đàn, một lời gọi, một nỗi oan suốt mấy chục năm, mỗi đời chủ mới lại là một người gác cổng bất đắc dĩ của nhà tù ấy. Ông nói tới đó thì im lặng, nhìn cuộn chỉ đỏ và chiếc gương đồng bát quái trong túi vải của mình, rồi bảo Tử Minh: ta mang theo gương đồng không phải để khoe phép, gương là để soi cho rõ sự vật vốn không chịu hiện hình trước mắt thường. Còn chỉ đỏ, để dành cho một việc khác, việc chưa tới lúc nói ra, phải chờ xem tận mắt bức tranh và tận tai nghe người trong nhà kể hết đã.
Ông cũng dặn cậu trước ba điều, giọng nghiêm khắc như một người thầy dặn học trò trước một kỳ thi sinh tử. Một, khi ông tới tiệm, mọi lời ông nói về bức tranh phải được ghi lại nguyên văn, không thêm bớt. Hai, trong những ngày ông ở tiệm chuẩn bị cho đêm rằm, không ai được tự ý vào thư phòng khi chưa có ông đi cùng, kể cả chủ nhà. Ba, điều quan trọng nhất: nếu tới lúc làm lễ mà chủ nhà không hợp tác, tự ý phá bỏ những gì ông dặn, thì mọi hậu quả người trong nhà phải tự gánh, vì phép của đạo sĩ không thắng nổi ý muốn của chính người sống mở cửa mời họa vào nhà. Tử Minh nghe từng điều, gật đầu từng điều, lòng thầm biết điều thứ ba là điều khó giữ nhất trong cả ba, vì người phải giữ nó chính là sư phụ cậu, người đã không còn nghe lời khuyên của bất cứ ai từ nhiều tháng nay.
Huyền Dương nói: cô ấy chờ một người chịu nghe hết khúc đàn của mình đã hơn sáu mươi năm rồi.