Họa Linh Tỳ Bà - Chương 4: Tranh Treo Thư Phòng

Tám trăm đại dương là một con số nói ra thì nhẹ, mà gom cho đủ thì nặng như đeo đá. Tiêu Văn Hạc về tiệm, mở két, đếm đi đếm lại số tiền mặt dành dụm…

Nội dung chương

Tám trăm đại dương là một con số nói ra thì nhẹ, mà gom cho đủ thì nặng như đeo đá. Tiêu Văn Hạc về tiệm, mở két, đếm đi đếm lại số tiền mặt dành dụm được, cộng thêm tiền bán vội hai món đồ sứ cho một chủ hiệu quen với giá thấp hơn giá trị thật đến hai phần, vẫn còn thiếu một khoản không nhỏ. Đám cưới với Tô Thanh Vân đã định vào cuối năm. Sính lễ chưa lo xong. Tiền thuê mặt bằng còn khất. Vậy mà ông ngồi trước két sắt trống đi một nửa, mặt bình thản như người vừa làm xong một việc hiển nhiên nhất trên đời.

Trưa hôm ấy ông tới hiệu cầm đồ Thụy Phong.

Thụy Phong nằm ở cuối phố, cửa hẹp, trong nhà tối và mát, mùi long não và mùi sắt gỉ xông lên từ những dãy kệ chất đầy đồ cầm cố hết hạn không ai chuộc: đồng hồ quả lắc, máy hát đĩa, áo lông, nghiên mực, cả những chiếc nhẫn cưới của những cặp vợ chồng đã phải chia tay nhau vì túng quẫn. Chủ hiệu là chỗ quen biết mấy chục năm với nhà họ Tiêu. Ông ta xem giấy tờ, nghe ông Tiêu nói cần vay thêm một khoản lấy bức tranh vừa thắng đấu giá làm vật đảm bảo một phần, thì ngẩng lên nhìn ông qua cặp kính lão, ánh mắt có phần ái ngại.

- Anh Tiêu, tôi nói thật như anh em trong nhà. - Chủ hiệu gõ nhẹ ngón tay lên mặt quầy gỗ. - Anh đã vay ở đây không ít. Món vay này nữa thì tiền lãi mỗi tháng sẽ ăn hết tiền lời bán hàng của Vinh Bảo Trai trong những tháng ế nhất. Anh có chắc bức tranh ấy đáng để mình gánh thêm nợ không.

- Chắc. - Ông Tiêu nói gọn. - Tôi xem tranh ba mươi năm, chưa có bức nào tôi chắc như bức này.

Chủ hiệu thở dài, không hỏi thêm, sai người viết giấy. Giấy vay ghi rõ số tiền, lãi suất, kỳ hạn. Ông Tiêu ký tên, điểm chỉ, nét chữ vững vàng không một nét run. Khi cầm xấp tiền mới đổi từ ngân hàng về, ông không đếm lại lần thứ hai như thói quen cẩn thận mọi khi. Ông cho tiền vào cặp da, đứng dậy đi thẳng tới Phổ Nghi Các thanh toán và nhận tranh, như sợ chỉ chậm một buổi chiều thôi thì sẽ có điều gì làm ông đổi ý, hoặc làm bức tranh vuột khỏi tay ông.

Cuộn tranh được giao lại trong chiếc hộp lụa dài, kèm giấy chứng nhận của nhà đấu giá và giấy biên nhận ghi rõ tình trạng lúc giao: lụa nguyên vẹn, trục gỗ không nứt, mép bồi không sờn thêm so với hồ sơ. Ông Tiêu tự tay ôm hộp tranh lên xe kéo, không cho người phụ việc của Phổ Nghi Các chạm vào. Diệp Tử Minh đi theo đón ở cửa tiệm, thấy sư phụ ôm chiếc hộp như ôm một đứa trẻ ngủ, bước xuống xe rất nhẹ, thì trong lòng vừa mừng vừa dâng lên một cảm giác lạ mà cậu không dám gọi tên.

Việc treo tranh gây ra trận tranh cãi đầu tiên trong nhà.

Ông Tiêu quyết định treo tranh trong thư phòng phía sau tiệm. Thư phòng ấy không lớn, một mặt kê giá sách, một mặt kê bàn viết và chiếc giường nhỏ nơi ông thường nghỉ trưa và những đêm xem hàng về khuya thì ngủ lại luôn, khỏi phải về phủ cũ ở đầu phố bên kia. Đối diện giường, trên bức tường vôi đã ngả màu, là chỗ ông định treo tranh, để sáng mở mắt ra là thấy, đêm trước khi ngủ nhìn thêm một lần.

Thôi ma ma nghe tin thì chống gậy từ nhà sau đi lên, đứng giữa cửa thư phòng mà can ngăn quyết liệt. Bà năm nay sáu mươi lăm tuổi, là vú già đã bế ông Tiêu từ khi ông còn đỏ hỏn, trong nhà này lời bà có khi còn nặng hơn cả lời ông chủ. Bà nhìn cuộn tranh trong hộp, nhìn bức tường đối diện giường, rồi lắc đầu liên tục.

- Cậu chủ, tôi lạy cậu. - Bà nói, giọng run vì lo hơn là vì già. - Tranh người lạ, lại là tranh đàn bà ôm đàn, treo ở sảnh cho khách xem thì treo, chứ treo trong phòng mình ngủ thì không nên. Người xưa kiêng treo tranh người không rõ lai lịch trong phòng ngủ, nửa đêm tỉnh giấc nhìn thấy người trong tranh nhìn mình thì mất vía. Huống hồ tranh này không có tên người vẽ, không biết người trong tranh là ai, còn sống hay đã chết, chết lành hay chết oan.

- Ma ma lo xa quá. - Ông Tiêu cười hiền, đích thân đỡ bà ngồi xuống ghế. - Tôi treo tranh của mình mua bằng tiền của mình, trong phòng của mình. Người trong tranh là người đã mất từ đời nào, nét bút của họa sĩ đời trước, có gì mà mất vía. Tôi cả đời ngủ chung phòng với đồ cổ còn nhiều tuổi hơn cả bà, có sao đâu.

- Đồ cổ là đồ cổ, tranh người là tranh người. - Bà vẫn lắc đầu, tay lần chuỗi hạt gỗ đã mòn bóng. - Cậu không nghe tôi hôm nay, sau này đừng trách bà già này không nói trước.

Châu Phúc đứng bên cạnh, muốn can mà không dám trái ý ông chủ, chỉ khẽ góp một câu rằng hay là treo ở gian giữa của tiệm, khách vào ra nhìn thấy một bức tranh đẹp như vậy cũng thêm uy tín cho Vinh Bảo Trai. Ông Tiêu gạt đi ngay. Ông nói bức tranh này chưa phải lúc cho thiên hạ xem. Chờ ông thẩm định kỹ càng, tra cứu lai lịch, tìm cho ra manh mối về họa sĩ vô danh, lúc ấy mới tính chuyện trưng bày. Còn bây giờ, nó ở trong thư phòng với ông.

Lời giải thích ấy nghe rất hợp lý, hợp lý đến mức chính ông cũng tin là thật. Chỉ có Tử Minh, đứng lặng ở góc phòng sắp xếp lại giá sách theo lệnh sư phụ, là cảm thấy lý do thật nằm ở chỗ khác. Cậu nhớ ánh mắt của sư phụ lúc cuộn tranh mở ra ở Phổ Nghi Các. Đó không phải ánh mắt của một người thẩm định đang chờ tra cứu. Đó là ánh mắt của người không muốn chia sẻ.

Trước khi tranh được treo, ông Tiêu còn làm một việc rất đúng tác phong của ông. Ông trải một tấm vải sạch lên bàn, đặt cuộn tranh lên, đeo kính, soi từng đoạn lụa dưới kính lúp suốt gần một canh giờ. Ông ghi vào sổ thẩm định của tiệm mấy dòng ngắn gọn: lụa cũ, màu bền, không dấu vá, không dấu tẩy sửa, triện họ Ngô ở góc dưới đã mờ nhưng nét khắc còn thật. Ông ghi ngày tháng, ghi giá mua, ghi nơi mua, chữ viết ngay ngắn như mọi lần. Chỉ có một điều ông không ghi, dù bàn tay ông đã dừng lại ở đó rất lâu khi soi tới. Ở chỗ vẽ thảm cỏ dưới chân mỹ nhân, màu cỏ xanh sẫm hơn mọi chỗ khác một cách khó giải thích, sẫm như thể cỏ ở đó từng thấm một thứ gì không phải nước hồ. Ông nhìn một lúc, rồi lật sang trang, quyết định hôm khác sẽ xem lại cho kỹ khi mắt đỡ mỏi. Một người thẩm định giỏi biết phân biệt đâu là dấu vết của thời gian, đâu là câu hỏi cần để lại cho ngày mai. Ông tự nhủ như vậy, và cuộn sổ lại.

Chiều ấy, tranh được treo lên. Châu Phúc bắc thang, Tử Minh đỡ trục dưới, ông Tiêu tự tay chỉnh từng phân cho tranh thẳng chính giữa tường, lui ra ngắm, lại tiến vào chỉnh thêm một chút, cầu kỳ hơn cả khi ông treo tấm biển của tiệm ngày mới sửa sang. Khi cuộn tranh buông xuống hết, mỹ nhân áo xanh lại hiện ra dưới gốc liễu, mặt nước xanh xám trải dài bên cạnh, cây tỳ bà trong lòng, mắt nhìn xuống như chưa từng bị cuộn lại, chưa từng qua tay bao nhiêu đời chủ. Ánh sáng cuối ngày từ cửa sổ phía tây rọi xiên vào thư phòng, đúng vào mặt lụa, làm tà áo xanh như sáng lên một thoáng rồi dịu xuống khi nắng tắt.

Ông Tiêu đứng ngắm tranh rất lâu, lâu đến mức Thôi ma ma sai người lên gọi xuống ăn cơm hai lần ông mới giật mình. Bữa cơm tối hôm ấy ông ăn ngon miệng hơn mọi ngày, còn nói với Tử Minh vài dự định mở rộng việc buôn bán sau khi bán lại hoặc trưng bày bức tranh đúng giá trị của nó. Ai trong nhà cũng mừng vì ông chủ vui. Chỉ Tử Minh để ý một điều nhỏ: suốt bữa cơm, cứ cách một lúc, ông Tiêu lại ngẩng đầu nhìn về phía thư phòng tối ở sau tiệm, như người ngồi ăn mà lòng để ở một nơi khác.

Đêm ấy tiệm đóng cửa sớm. Người làm lần lượt về nghỉ. Phủ họ Tiêu chìm vào yên tĩnh, chỉ còn tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc ở gian giữa và tiếng côn trùng cuối thu ngoài sân sau. Ông Tiêu ở lại thư phòng đọc sách, khêu đèn dầu, thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn tranh. Khoảng giờ Hợi, ông thổi tắt đèn lớn, chỉ để lại ngọn đèn nhỏ đầu giường, rồi nằm xuống, quay mặt về phía bức tranh như một thói quen đã hình thành ngay từ đêm đầu tiên dù ông không nhận ra.

Ông ngủ thiếp đi lúc nào không hay, trong giấc ngủ chập chờn toàn là mặt nước và tiếng lá liễu xào xạc dù trong phòng không có gió.

Rồi, vào lúc nửa đêm, trong tiệm vắng không một bóng người thức, một nốt đàn đơn độc vang lên từ phía thư phòng.

Chỉ một nốt thôi. Trong, ngân, rồi tắt hẳn, như một giọt nước rơi xuống mặt hồ phẳng lặng rồi mặt hồ khép lại không để lại dấu vết gì. Ông Tiêu choàng tỉnh, ngồi bật dậy trong bóng tối, tim đập mạnh, mắt nhìn trân trân vào bức tranh chỉ còn là một vệt dài mờ mờ trên tường. Ông lắng nghe rất lâu. Không có nốt thứ hai. Chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc và tiếng tim của chính ông.

Ông nằm xuống lại, mở mắt nhìn lên trần nhà cho tới gần sáng, và tự bảo mình rằng đó là tiếng dây đàn của chiếc đàn cũ treo ở gian ngoài bị chuột chạy qua chạm phải, dù ông biết rõ gian ngoài của Vinh Bảo Trai không hề treo một cây đàn nào cả.

Chương khác

Xem thêm