Họa Linh Tỳ Bà - Chương 7: Giấc Mơ Dưới Gốc Liễu
Giấc mơ bắt đầu đến với Tiêu Văn Hạc từ những đêm cuối tháng chín âm lịch, đều đặn như tiếng đàn giờ Tý, và cũng bí mật như tiếng đàn giờ Tý, vì ông…
Nội dung chương
Giấc mơ bắt đầu đến với Tiêu Văn Hạc từ những đêm cuối tháng chín âm lịch, đều đặn như tiếng đàn giờ Tý, và cũng bí mật như tiếng đàn giờ Tý, vì ông không kể nó cho bất kỳ ai.
Trong mơ, ông không nằm trên chiếc giường nhỏ trong thư phòng của Vinh Bảo Trai nữa. Ông ngồi trên một phiến đá phẳng phủ cỏ, dưới một gốc liễu già rủ cành xuống mặt nước. Gió trong mơ rất nhẹ, mang theo mùi lá liễu tươi và mùi nước hồ buổi sớm, đúng thứ mùi ông đã ngửi thấy trong thư phòng đêm đầu tiên. Trời trong mơ không sáng không tối, một thứ ánh sáng chạng vạng kéo dài không bao giờ đổi sang đêm hẳn hay ngày hẳn. Ông ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối như một người học trò ngồi chờ thầy, và ông biết, bằng cái biết không cần lý lẽ của giấc mơ, rằng có người sắp tới ngồi xuống bên cạnh ông.
Nàng đến không một tiếng động. Nàng ngồi xuống phiến đá bên cạnh, tà áo xanh xõa ra phủ gần chạm vào vạt áo của ông, cây tỳ bà trong lòng. Ông không nhìn rõ mặt nàng trong mơ. Mỗi lần ông cố quay sang nhìn thẳng, khuôn mặt ấy lại như bị một lớp sương mỏng che đi, chỉ còn thấy được góc nghiêng, hàng mi dài, và bàn tay với những đốt ngón tay tỉ mỉ đặt lên dây đàn. Nàng đàn cho ông nghe. Khúc đàn trong mơ giống hệt khúc đàn giờ Tý trong thư phòng, réo rắt, chậm rãi, buồn mà không não nề, như tiếng nước chảy qua một khúc sông đã chảy như vậy từ rất lâu trước khi ông ra đời và sẽ còn chảy như vậy rất lâu sau khi ông mất đi.
Ông ngồi nghe, và trong mơ ông thấy lòng mình yên tĩnh một cách chưa từng có trong đời thật. Bao nhiêu nợ nần, bao nhiêu lo toan về tiệm, về đám cưới, về danh tiếng, đều không theo ông vào được giấc mơ này. Ở đây chỉ có gốc liễu, mặt nước, tiếng đàn và một người đàn bà không nhìn ông mà đàn cho ông nghe như đã đàn cho ông nghe từ kiếp nào. Có đêm trong mơ ông thử lên tiếng hỏi nàng là ai. Môi ông mấp máy nhưng không thành tiếng, như người nói dưới mặt nước. Nàng không trả lời, chỉ đàn chậm lại một chút, như thể câu hỏi của ông đã làm nàng buồn thêm. Từ đó ông không hỏi nữa. Ông chỉ ngồi nghe, đêm này qua đêm khác, và mỗi sáng tỉnh dậy, ông thấy mình tiếc giấc mơ vừa qua đi như tiếc một ngày lễ ngắn ngủi.
Ban ngày, ông bắt đầu một thói quen mới mà ông tự giải thích là công việc thẩm định. Ông đứng trước bức tranh hàng giờ liền, so sánh. Ông so sánh nụ cười của nàng hôm nay với nụ cười trong trí nhớ của ông hôm mới mua tranh về. Hôm mới mua, miệng nàng khép hờ, không cười. Ông chắc chắn điều đó, vì ông đã ghi vào sổ thẩm định và vì ấn tượng lạnh người của cả phòng đấu giá hôm ấy đến từ chính vẻ không cười không khóc ấy. Nhưng bây giờ, đứng trong thư phòng vào một buổi sáng nắng tốt, nhìn kỹ vào khóe miệng nàng dưới ánh sáng ban ngày rõ ràng không thể là ảo giác của đèn dầu, ông thấy khóe miệng ấy đã nhếch lên. Nhếch cao hơn hôm mới mua một cách không thể nhầm lẫn đối với một con mắt đã làm nghề ba mươi năm.
Ông lấy sổ thẩm định ra, định ghi lại quan sát này như ghi mọi quan sát khác về một món đồ: ngày tháng, điều kiện ánh sáng, thay đổi quan sát được. Ngòi bút của ông dừng lại giữa trang giấy. Ông nhận ra mình không muốn ghi. Ghi ra thì nó thành một sự kiện, một sự kiện thì phải có giải thích, và ông không có giải thích nào mà ông sẵn sàng đối diện. Ông tự trấn an mình theo cách của một người làm nghề lâu năm tự trấn an: đó là mắt mình hoa vì thiếu ngủ nhiều đêm liền. Người mất ngủ nhìn tranh tĩnh cũng thấy tranh động, chuyện ấy sách vở về nghề cũng có nói tới, do mắt mỏi, do thần kinh căng. Ông gấp sổ lại, cất vào ngăn kéo, và tự hứa đêm nay sẽ ngủ sớm, không thức chờ giờ Tý nữa.
Ông không giữ được lời hứa ấy. Đêm đến, ông lại nằm quay mặt về phía tranh, lại chờ tiếng đàn, và khi tiếng đàn vang lên ông lại thấy lòng mình nhẹ nhõm như người nghiện thấy khói thuốc, một sự nhẹ nhõm mà sau này ông mới dám gọi đúng tên của nó trong những đêm mất ngủ còn dài hơn nhiều.
Có một việc nữa ông giấu kín, giấu cả với chính mình trong nhiều ngày. Đó là ông bắt đầu nói chuyện với bức tranh. Không phải nói thành tiếng to. Chỉ là những câu rất khẽ vào buổi sáng khi ông đứng một mình trong thư phòng, những câu mà nếu có người nghe thấy sẽ tưởng ông đang lẩm bẩm về công việc. Ông hỏi nàng đêm qua ngủ có yên không, một câu hỏi vô lý dành cho một người trong tranh. Ông nói hôm nay trời trở gió, phố ngoài kia lá rụng nhiều. Ông kể cho nàng nghe về một món đồ sứ vừa có người mang tới, về tay buôn ở Thiên Tân, về những chuyện vụn vặt của một ngày buôn bán ế ẩm. Và trong lúc nói, ông luôn có cảm giác nàng đang nghe, không phải bằng đôi tai vẽ bằng mực và màu trên lụa, mà bằng một cách nào khác mà ông không hiểu và cũng không muốn hiểu cho tỏ tường. Hiểu tỏ tường thì sẽ phải sợ. Mà ông thì không muốn sợ nàng. Điều ấy, ông giữ chặt trong lòng như giữ một bí mật đáng xấu hổ của một người đàn ông đứng tuổi.
Ban ngày của ông cũng bắt đầu rạn ra theo những cách nhỏ mà người ngoài nhìn vào chỉ thấy là sự đãng trí của một người thiếu ngủ. Ông định giá sai một chiếc đĩa men lam cho một khách quen, định thấp hơn giá thật gần một nửa, may mà Tử Minh đứng bên khẽ nhắc ông mới sửa lại kịp trước khi khách gật đầu. Ông quên mất một cuộc hẹn xem hàng ở nhà một vị khách cũ ngoài thành, để người ta chờ cả buổi sáng rồi cho người tới tiệm hỏi, Châu Phúc phải thay mặt xin lỗi rối rít. Ông mở sổ sách ra tính tiền lãi tháng này, tính đi tính lại ba lần đều ra ba con số khác nhau. Những việc ấy, từng việc một thì nhỏ, nhưng cộng lại trong một tuần thì thành một bức tranh khác hẳn về người chủ tiệm nổi tiếng tinh tường của phố Liễu Ly Xưởng. Tử Minh đứng bên cạnh nhìn mà lo, mấy lần định mở lời khuyên sư phụ đi khám bệnh hoặc nghỉ ngơi ít ngày, nhưng lần nào cũng bị ánh mắt của sư phụ chặn lại. Đó là ánh mắt của người không muốn bị can ngăn, ánh mắt nói rõ rằng nếu cậu nói ra điều cậu đang nghĩ, tình thầy trò sẽ có một vết rạn không dễ gì hàn gắn. Tử Minh đành nuốt lời khuyên xuống, thay vào đó cậu làm việc chăm chỉ gấp đôi, gánh hết những việc lặt vặt của tiệm để sư phụ đỡ phải bận tâm, và trong lòng cậu, một ý nghĩ bắt đầu thành hình mà cậu chưa dám nghĩ cho trọn vẹn: sư phụ không còn là sư phụ của những ngày trước khi bức tranh về nhà nữa.
Một buổi tối, sau bữa cơm, ông Tiêu đang ở trong thư phòng thì Châu Phúc gõ cửa mang vào ấm trà mới, rồi đứng nán lại, vẻ mặt có điều muốn nói mà khó mở lời. Ông Tiêu ngẩng lên khỏi chồng sách, hỏi có việc gì. Châu Phúc gãi đầu, nói giọng rất nhỏ như sợ người thứ ba nào nghe thấy dù trong phòng chỉ có hai người.
- Thưa ông chủ, tối qua tôi ra sân sau lấy nước, lúc đi ngang qua cửa thư phòng thì thấy một bóng người áo lục đi qua phía trong sân, gần chậu liễu. - Châu Phúc nói, mắt không dám nhìn thẳng. - Tôi tưởng là khách khuya của ông chủ, lại tưởng mình hoa mắt vì trời tối. Nhưng áo lục thì nhà mình không ai mặc áo lục cả. Người làm toàn mặc áo nâu áo chàm. Tôi đứng lại nhìn thêm thì không thấy ai nữa. Sân trống không. Tôi về buồng nằm mà cứ nghĩ mãi, sáng nay mới dám thưa với ông chủ.
Ông Tiêu im lặng một lúc lâu. Ông đặt cuốn sách xuống bàn, rất chậm rãi, rồi mỉm cười trấn an người quản gia trung thành của mình. Ông nói nhà ở phố cổ, sân sau thông với ngõ nhỏ, đêm hôm có người đi nhờ qua sân là chuyện thường, có khi là người ở nhà bên đi tắt. Ông bảo Châu Phúc đừng nghĩ ngợi, đừng kể chuyện này cho Thôi ma ma nghe kẻo bà già yếu bóng vía lại mất ngủ. Châu Phúc vâng dạ, vẻ mặt nhẹ nhõm hẳn vì được ông chủ giải thích cho một lời giải thích hợp lý, rồi lui ra, khép cửa lại cẩn thận.
Cánh cửa vừa khép, nụ cười trên mặt ông Tiêu tắt ngay. Ông ngồi lặng trong thư phòng, tay đặt trên cuốn sách đã gấp, mắt nhìn lên bức tranh trên tường đối diện. Nàng vẫn ngồi dưới gốc liễu, mắt nhìn xuống mặt nước, khóe miệng nhếch lên một nụ cười mà bây giờ ông không còn tự trấn an nổi là do mắt mình hoa nữa.
Ông đứng dậy, bước tới trước bức tranh, đứng gần đến mức hơi thở của ông làm mặt lụa rung rất nhẹ. Ông nhìn vào tà áo xanh trong tranh, màu xanh dịu như lá sen non, và so sánh trong đầu với lời kể vừa rồi. Trong nhà này không ai mặc áo lục. Ngoài phố người mặc áo lục thì nhiều, nhưng người mặc áo lục đi qua sân sau của một tiệm đồ cổ đã khóa cổng vào lúc đêm khuya, rồi biến mất không để lại dấu vết gì, thì không phải người qua đường nào cũng làm được.
Ông lẩm bẩm một mình trong phòng trống, giọng khẽ đến mức chính ông cũng suýt không nghe thấy: tối qua, rốt cuộc là ai đã đi qua sân sau trong chiếc áo lục ấy.