Lên Hương - Chương 40: Lớp lót chè búp

Cỗ hòm gỗ Vàng Tâm đã thành hình sau hai ngày đêm hì hục. Diệp An ngắm tác phẩm của mình dưới ánh đèn dầu, gật gù hài lòng. Thân hòm màu vàng óng, vân gỗ…

Nội dung chương

Cỗ hòm gỗ Vàng Tâm đã thành hình sau hai ngày đêm hì hục. Diệp An ngắm tác phẩm của mình dưới ánh đèn dầu, gật gù hài lòng. Thân hòm màu vàng óng, vân gỗ mịn màng, bốn góc chạm khắc đơn giản mà tinh tế theo đúng phong cách chú Bảy Trọng truyền lại: không cầu kỳ, không phô trương, chỉ cần tươm tất và ấm cúng. Như chính cuộc đời bà Năm vậy, giản dị mà thơm thảo.

Việc tiếp theo là lót đáy hòm. Theo tục lệ, đáy hòm phải lót nhiều lớp: giấy bản, vải, rồi những thứ gắn với nghề nghiệp, sở thích của người đã khuất, để họ nằm được êm ái, và để linh hồn nhìn thấy những gì thân thương nhất khi nắp hòm khép lại.

Diệp An quyết định lót đáy hòm bà Năm bằng chè búp khô. Anh đạp xe ra chợ Chợ Quán từ sáng sớm, mua một bọc lớn chè búp loại ngon, thêm một rổ cánh hoa cúc vạn thọ vàng rực. Bà bán chè thấy anh mua nhiều, còn tưởng anh mở quán, nghe anh kể là để lót hòm cho bà Năm bán chè thì bà sững người, rồi lặng lẽ bốc thêm cho anh một nắm lớn, không lấy tiền:

- Cậu lót giùm tôi một nắm này nữa. Hồi đó tôi với bà Năm cùng gánh chè một thời. Cậu nói với bà ấy, tôi nhớ bà ấy.

Diệp An ôm bọc chè về, mắt cay cay. Người dưng còn nhớ nhau như vậy, huống chi là con ruột. Mà thôi, nghĩ tới ba đứa con kia chỉ thêm tức.

Trên đường về, anh ghé qua tiệm hoa, mua thêm một rổ cánh hoa cúc vạn thọ vàng rực. Cô bán hoa nghe anh kể lót hòm cho bà Năm bán chè, cũng lặng người một lúc rồi bốc thêm cho anh một bó hoa cúc nguyên bông:

- Cậu cắm lên bàn thờ bà ấy giùm tôi. Hồi tôi mới ra bán hoa, ế quá trời, bà Năm đi ngang thấy tôi ngồi khóc, bả mua ủng hộ một bó, còn dặn: "Bán hàng phải cười, mặt mày bí xị ai dám mua." Tôi nhớ hoài.

Diệp An ôm hoa về, trong lòng ngổn ngang. Một bà cụ bán chè gánh rong, vậy mà đi đâu cũng để lại ân tình. Còn ba đứa con ruột thịt, ăn học thành tài, nhà lầu xe hơi, lại đang ngồi so bảng giá lò hỏa táng. Đời đúng là tréo ngoe.

Đêm xuống, anh trải từng lớp giấy bản xuống đáy hòm. Giấy bản là loại giấy dó truyền thống, dai, bền, theo quan niệm dân gian thì giấy bản lót đáy hòm sẽ giúp linh hồn đi qua cầu Nại Hà được nhẹ nhàng. Anh trải ba lớp, mỗi lớp đều vuốt phẳng phiu, không một nếp nhăn. Rồi anh rải một lớp dày chè búp khô lên trên. Mùi chè thơm nồng bốc lên, quyện với mùi gỗ Vàng Tâm thành một mùi hương lạ lùng mà dễ chịu, vừa thanh tao vừa ấm áp.

Anh rắc thêm cánh hoa cúc vạn thọ, từng cánh vàng óng rơi lả tả như những đồng tiền vàng. Trong quan niệm dân gian, hoa cúc vạn thọ là loài hoa của sự trường tồn, của lòng hiếu thảo. Lót hoa cúc, là mong người nằm xuống được thanh thản, người ở lại được nhắc nhớ đạo hiếu. Lạc Lạc ngồi vắt vẻo trên thành hòm, vừa xem vừa hỏi:

- Anh Hai ơi, sao anh không lót bằng tiền? Bà Năm dành dụm nhiều tiền lẻ lắm mà.

- Tiền thì con cái bà nó thèm, chứ bà có thèm đâu. - Diệp An vừa rải chè vừa nói. - Bà cả đời bán chè, mùi chè là mùi của đời bà. Lót chè, bà nằm xuống, ngửi thấy mùi quen thuộc, bà sẽ thấy như đang nằm giữa gánh chè của mình, yên lòng.

- Ờ ha. - Lạc Lạc gật gù, rồi bỗng trầm ngâm một cách lạ thường. - Anh Hai, hồi bà Năm còn sống, ngày nào bà cũng gánh chè đi qua xóm mình phải không?

- Ừ. Ba chục năm, không nghỉ ngày nào, trừ mấy ngày Tết.

- Vậy mà ba đứa con bà... - Lạc Lạc thở dài, lần đầu tiên trong ba mươi năm làm lễ tân cõi âm, cô bé không đùa cợt mà ngồi im nghe chuyện đến trầm ngâm. - Em thấy làm người khó quá anh Hai ơi. Chết rồi mà còn phải lo con cái nó đốt mình hay chôn mình.

Diệp An ngừng tay, xoa đầu bé:

- Thì mới cần có Vạn Niên Cư chứ em. Người sống lo không xong, thì để người chết tự lo. Bà Năm tự dành dụm tiền, tự chọn hòm, tự chọn chỗ nằm. Đó là cách bà giữ lại chút tự trọng cuối cùng của mình.

Anh rải xong lớp chè, phủ thêm một lớp vải lụa mỏng lên trên cho êm. Theo lệ, lớp vải lót cuối cùng phải là vải mới, chưa ai dùng qua, tượng trưng cho sự tinh khôi của chuyến đi cuối cùng. Anh dùng tấm lụa trắng mà chú Bảy để lại trong kho, loại lụa tơ tằm mềm mại, sờ vào mát rượi. Phủ xong, anh vuốt phẳng từng nếp, rồi đặt lên trên một chiếc gối nhỏ nhồi bông gòn, cũng bọc lụa trắng.

- Xong! - Anh phủi tay, ngắm thành quả. - Bà Năm nằm lên đây, êm như nằm trên đống chè búp, thơm như nằm giữa vườn hoa.

- Đẹp quá anh Hai ơi! - Lạc Lạc vỗ tay. - Em mà được nằm cái hòm này, em cũng chịu chết thêm lần nữa!

- Con nít, nói gở hoài! - Diệp An cốc nhẹ lên trán bé, nhưng cũng bật cười.

Xong xuôi, anh ngồi bệt xuống sàn, thở dốc. Đã mấy đêm liền anh mất ngủ, mắt díp lại, đầu óc quay cuồng. Mỗi lần vẽ nắp hòm xong, sinh khí trong người anh như bị rút đi một ít: đêm đó anh trằn trọc không ngủ được, sáng dậy tay run run, soi gương thấy tóc mai lấm tấm thêm mấy sợi bạc. Chú Bảy dặn trong thư: Họa Hồn Bút không phải trò đùa, mỗi nắp hòm là một lần đánh đổi.

Đây đã là nắp hòm thứ ba trong tuần này. Anh nhớ lại vụ Bé Tí hồi tháng trước: khi đó mới là nắp thứ hai trong mười ngày mà anh đã choáng váng suýt ngã, phải nhờ Lạc Lạc làm ầm lên bắt anh thề nghỉ ngơi một ngày trọn giữa mỗi lần vẽ. Lần này anh nghe lời bé, nghỉ đúng một ngày sau nắp thứ hai, ăn uống đầy đủ, ngủ một giấc dài. Nhờ vậy mà giờ đây, dù tay có run, mắt có díp, anh vẫn còn đủ tỉnh táo để pha mực.

Nhưng pha mực là việc không được phép sai. Anh đong tro tàn nhang và sáp ong đúng tỷ lệ bảy phần ba, từng muỗng một, cân đo cẩn thận. Tro tàn nhang phải là tro từ nhang trầm trên bàn thờ tổ nghề, không lẫn tạp chất. Sáp ong phải đun chảy ở lửa nhỏ, không được để sôi. Tro nhiều hơn một chút, tranh sẽ nhòe, linh hồn thấy cảnh méo mó mà hoảng loạn, thậm chí có thể nhập vào người vẽ trong lúc hoảng. Sáp nhiều hơn một chút, mực không ăn vào gỗ, tranh không thành "thế giới vĩnh hằng" được.

- Anh Hai, tay anh run quá. - Lạc Lạc lo lắng bay tới. - Hay để mai vẽ? Em thấy anh mệt lắm rồi.

- Không được. - Diệp An lắc đầu, cố giữ tay cho vững. - Mai đã phải đưa hòm tới đám tang rồi. Đêm nay phải vẽ xong. Bà Năm đang chờ.

Anh mở cuốn sổ tay chú Bảy, đọc lại dòng chữ chú dặn về mực vẽ: "Tro bảy, sáp ba, lửa nhỏ, lòng tĩnh. Tay run thì nghỉ, đừng cố. Tranh của người chết không chấp nhận sự vội vàng." Anh đọc ba lần, hít thở sâu theo nhịp, đợi tay bớt run mới bắt đầu pha. Từng muỗng tro tàn nhang được rây kỹ qua tấm vải màn cho mịn, từng giọt sáp ong đun chảy được nhỏ vào từ từ, vừa nhỏ vừa khuấy đều theo một chiều. Lạc Lạc nín thở xem, không dám hỏi han gì thêm, chỉ thỉnh thoảng đưa tay quạt nhẹ cho anh đỡ nóng.

Anh nhúng cọ vào chén mực. Mực đen óng, sánh mịn, đúng tỷ lệ. Anh nhắm mắt một lúc, tưởng tượng ra đồi chè xanh mướt mà bà Năm từng kể: hồi trẻ, bà theo chồng lên đồi chè hái búp, hai đứa hẹn nhau đầu luống chè, thề non hẹn biển. Rồi anh mở mắt, đặt nét cọ đầu tiên lên mặt trong của nắp hòm.

Ngoài kia, đồng hồ điểm 1 giờ sáng. Trong tiệm, chỉ còn tiếng cọ sột soạt trên gỗ, tiếng Lạc Lạc thở khẽ, và mùi chè búp thơm nồng quyện với mùi mực trầm. Diệp An vẽ, từng nét một, chậm mà chắc, như đang dệt lại cả một đời người bằng màu mực đen. Đêm nay, anh không chỉ vẽ một bức tranh, anh đang vẽ lại ba mươi năm gánh chè của một bà cụ, để bà mang theo sang thế giới bên kia.

Chương khác

Xem thêm