Lên Hương - Chương 49: Người lính già Trường Sơn

Tháng mười sang, trời Sài Gòn se se lạnh. Những cơn mưa cuối mùa thưa dần, thay vào đó là những đêm sương mù giăng mắc khắp con hẻm cổ cạnh Nhà thờ Chợ…

Nội dung chương

Tháng mười sang, trời Sài Gòn se se lạnh. Những cơn mưa cuối mùa thưa dần, thay vào đó là những đêm sương mù giăng mắc khắp con hẻm cổ cạnh Nhà thờ Chợ Quán. Vạn Niên Cư vẫn mở cửa từ 0 giờ đến 3 giờ sáng như mọi đêm, ngọn đèn lồng lụa trắng hình hoa sen treo trước cửa đung đưa trong gió heo may.

Đúng 0 giờ, tiếng chuông đồng vang lên ba tiếng trong veo. Trần Diệp An đang ngồi lau chùi cây cọ vẽ, ngẩng lên. Lạc Lạc bay vút ra cửa, rồi quay vào, mặt nghiêm trang hiếm thấy:

- Anh Hai ơi, khách này... khách này đặc biệt lắm. Ông cụ mặc đồ lính, vai khoác cái võng rách, đứng nghiêm như chào cờ đó!

Diệp An kéo nửa cánh cửa sắt lên. Ngoài hẻm, một ông lão gầy gò đứng thẳng tắp dưới ánh đèn lồng. Ông chừng ngoài bảy mươi, mặc bộ đồ lính bạc màu đã sờn vai, chân đi đôi dép râu cũ kỹ, vai khoác một chiếc võng dù rách nhiều chỗ. Tóc ông bạc trắng, cắt ngắn gọn gàng kiểu lính. Đôi mắt ông sâu, sáng, nhìn thẳng vào Diệp An với ánh nhìn của người đã từng đi qua sinh tử.

- Chào cậu. - Ông lão giơ tay chào theo kiểu nhà binh, rồi cười hiền, nụ cười làm những nếp nhăn trên mặt ông xô lại. - Tôi tên Đạn, Trần Văn Đạn. Người ta gọi tôi là Sáu Đạn. Lính Trường Sơn năm xưa.

- Dạ, chào bác Sáu! Mời bác vào nhà! - Diệp An vội kéo ghế. Anh rót chén trà nóng, dù biết hồn ma không uống được, nhưng lễ thì phải có.

Ông Sáu Đạn ngồi xuống, đặt chiếc võng dù rách lên đùi, vuốt ve nó như vuốt ve một người bạn cũ. Lạc Lạc bay quanh ông, tò mò hít hà, rồi bé sà xuống ngồi cạnh ông, đung đưa chân:

- Ông ơi, cái võng này rách quá trời, sao ông không bỏ đi mua cái mới?

Ông Sáu Đạn cười, vỗ vỗ chiếc võng:

- Bỏ sao được con. Cái võng này theo ông từ hồi còn ở Trường Sơn. Hồi đó, hành quân mệt, mắc võng lên cây là ngủ, mưa cũng ngủ, bom đạn cũng ngủ. Có lần đơn vị ông bị phục kích, ông đang nằm võng thì đạn bắn rách võng, ông lăn xuống đất, thoát chết trong gang tấc. Từ đó, ông coi cái võng này như bùa hộ mệnh.

- Oa, võng thần kỳ! - Lạc Lạc trầm trồ. - Vậy ông mang nó theo suốt mấy chục năm luôn hả?

- Ừ. Về rồi, ông vẫn mắc nó ở góc nhà, tối nào cũng nằm. Bà nhà ông mất sớm, có cái võng này bầu bạn. - Ông Sáu Đạn nói, mắt xa xăm. - Giờ ông sắp đi, ông muốn mang nó theo. Xuống dưới đó, không có võng nằm, lưng ông đau lắm.

Diệp An nghe mà lòng quặn lại. Một đời lính, về già chỉ còn chiếc võng rách làm bạn. Anh quyết định, khi khâm liệm, anh sẽ đặt chiếc võng này vào hòm cho ông, để ông mang theo.

- Bác Sáu tới đây là có việc gì nhờ con? - Diệp An hỏi, dù đã đoán được phần nào.

Ông Sáu Đạn im lặng một lúc, đôi mắt sâu nhìn xa xăm như đang nhớ về một thời đã xa. Rồi ông nói, giọng chậm rãi, chắc nịch như người lính báo cáo:

- Tôi muốn đặt một cỗ hòm. Hòm gỗ sao, loại gỗ "nặng mùi rừng" ấy. Tôi cả đời gắn với rừng Trường Sơn, giờ đi xa, tôi muốn nằm trong mùi rừng cho nó quen.

- Dạ được, bác yên tâm. - Diệp An gật đầu. - Nhưng sao bác lại... ý con là, bác còn khỏe mà?

Ông Sáu Đạn cười, nụ cười hiền mà buồn:

- Già rồi cậu ơi, tim nó mệt. Bác sĩ bảo quả tim tôi như cái máy cũ, chạy được ngày nào hay ngày ấy. Tôi biết mình sắp đi, nên tới đặt hòm trước, kẻo lúc đi rồi lại vội vàng, không kịp dặn dò.

Ông ngừng một chút, rồi nói tiếp, giọng trầm xuống:

- Tôi có một tâm nguyện. Hồi chiến tranh, tôi đi lính Trường Sơn, cùng tiểu đội mười hai người. Hết chiến tranh, chỉ còn ba người trở về. Chín đứa còn lại, nằm lại trong rừng, có đứa tìm được hài cốt, có đứa... tới giờ vẫn chưa tìm thấy. Tôi muốn... tôi muốn cỗ hòm của tôi, cậu vẽ cho tôi con đường mòn Trường Sơn đầy hoa sim, để tôi... đi tìm mấy đứa đồng đội còn nằm lại trong đó.

Diệp An nghe mà sống mũi cay cay. Một ông lão bảy mươi mốt tuổi, cả đời mang theo nỗi day dứt về những đồng đội nằm lại trong rừng. Anh gật đầu chắc nịch:

- Con nhận. Con sẽ vẽ cho bác con đường mòn đẹp nhất, hoa sim nở rộ nhất, để bác đi tìm đồng đội.

Ông Sáu Đạn gật đầu, mắt rưng rưng. Rồi ông cởi chiếc mũ tai bèo cũ sờn trên đầu xuống, đặt lên bàn. Chiếc mũ đã bạc màu, vành mũ còn dính vệt đất đỏ như đất rừng chưa kịp phủi.

- Cái mũ này, tôi đội từ hồi còn ở Trường Sơn. Đất đỏ trên vành mũ là đất ở đèo Mụ Giạ, nơi thằng Tư Bến Tre nằm lại. Tôi giữ nó mấy chục năm, giờ tôi gửi cậu, cậu bỏ vào hòm cho tôi. Để tôi mang theo một ít đất của đồng đội, đi đâu cũng như có tụi nó bên cạnh.

Diệp An cầm chiếc mũ lên, thấy nó nhẹ tênh mà nặng trĩu. Vệt đất đỏ trên vành mũ như còn ấm hơi rừng. Anh đặt chiếc mũ cẩn thận lên bàn thờ tổ nghề, thắp một nén nhang:

- Bác yên tâm, con sẽ bỏ mũ vào hòm cho bác. Bác còn dặn gì nữa không?

Ông Sáu Đạn suy nghĩ một lúc, rồi nói:

- Còn một việc nữa. Tôi có mấy tấm ảnh đồng đội hồi còn ở Trường Sơn, chụp chung cả tiểu đội. Tôi để trong cái hộp gỗ ở nhà. Khi nào tôi đi, cậu tới lấy, bỏ vào hòm cho tôi. Để xuống dưới đó, tôi còn có ảnh mà nhận mặt tụi nó, kẻo mấy chục năm không gặp, quên mất mặt nhau.

- Dạ, con nhớ rồi. - Diệp An ghi chép cẩn thận vào sổ. - Bác cho con địa chỉ nhà, khi nào... khi nào bác đi, con tới lấy.

Ông Sáu Đạn đọc địa chỉ chậm rãi, từng chữ rõ ràng như đọc tọa độ trên bản đồ hành quân. Diệp An ghi xong, ngẩng lên hỏi:

- Bác ơi, sao bác không nhờ người nhà lo? Con cháu bác đâu?

Ông Sáu Đạn cười buồn, lắc đầu:

- Vợ tôi mất sớm, chúng tôi không có con. Họ hàng thì mỗi người một nơi, lâu rồi không liên lạc. Tôi chỉ còn mấy ông bạn già ở hội cựu chiến binh, thỉnh thoảng ghé thăm. Nên tôi mới tới tìm cậu, tôi nghe người ta nói tiệm Vạn Niên Cư làm ăn có tâm, chủ tiệm còn trẻ mà tử tế. Tôi tin cậu.

Diệp An nghe mà sống mũi cay cay. Một ông lão cô đơn, không con không cháu, cả đời chỉ còn đồng đội trong ký ức và chiếc võng rách làm bạn. Anh nắm chặt cây bút, thầm hứa sẽ lo cho ông chu đáo nhất có thể, như lo cho chính người thân của mình.

Ông Sáu Đạn đọc địa chỉ: một căn nhà nhỏ trong con hẻm gần nghĩa địa Đa Phước, nơi ông ở một mình từ khi vợ mất, làm nghề gác nghĩa địa kiếm sống qua ngày. Diệp An nghe mà xót xa. Một cựu lính Trường Sơn, về già sống đơn độc, gác nghĩa địa, vậy mà vẫn giữ được khí phách người lính, vẫn lo cho đồng đội nằm lại trong rừng.

Ông Sáu Đạn đứng dậy, giơ tay chào kiểu nhà binh lần nữa, rồi quay lưng bước ra màn đêm. Nhưng ra tới cửa, ông bỗng dừng lại, quay đầu nói nhỏ:

- Cậu An này, tôi gác nghĩa địa Đa Phước mấy chục năm. Có chuyện này, tôi thấy cậu là người đáng tin, tôi dặn trước: ở nghĩa địa có một "ngôi mộ không bia", đêm nào tôi cũng nghe tiếng cuốc xẻng lách cách quanh đó. Tôi rình bao lần mà không bắt được ai. Tụi nó như ma vậy. Cậu... cậu cẩn thận. Đừng đi một mình ra đó ban đêm.

- Dạ, con nhớ rồi bác. - Diệp An gật đầu, ghi nhớ từng chữ.

Nói rồi, ông tan dần vào sương đêm, chỉ còn chiếc võng dù rách vẫn nằm trên ghế, như một lời nhắc nhở. Lạc Lạc bay tới ôm chiếc võng, hít hà, rồi nhăn mặt:

- Mùi rừng thiệt anh Hai ơi! Mà... mà sao em thấy mùi này quen quen?

Diệp An nhìn chiếc mũ tai bèo với vệt đất đỏ trên bàn thờ, lòng ngổn ngang. "Ngôi mộ không bia", tiếng cuốc xẻng đêm, không bắt được ai... Chuyện này, sao nghe quen quá. Anh chợt nhớ tới những cây đinh sắt trấn yểm trên mộ cổ, nhớ tới hai bóng người đào bới dưới ánh đèn pin mà anh và A Lực đã thấy. Chẳng lẽ, tất cả đều liên quan tới nhau?

Ngoài kia, sương đêm càng lúc càng dày. Trong tiệm, ngọn đèn lồng lụa trắng vẫn cháy đều, soi rõ chiếc mũ tai bèo cũ sờn nằm im trên bàn thờ, vành mũ còn dính vệt đất đỏ như máu của rừng. Lạc Lạc ôm chiếc võng dù rách, ngồi thu lu một góc, lí nhí: "Anh Hai ơi, ông Sáu tốt quá, em mong ông tìm được đồng đội." - Ừ. - Diệp An xoa đầu bé, giọng chắc nịch. - Anh sẽ làm tất cả để tâm nguyện của ông thành hiện thực.

Chương khác

Xem thêm