Lên Hương - Chương 50: Ngôi mộ không bia
Mấy đêm sau, ông Sáu Đạn lại ghé Vạn Niên Cư. Lần này ông tới sớm hơn, vừa đúng 0 giờ đã đứng ngoài cửa, vẫn bộ đồ lính bạc màu, vẫn chiếc võng dù rách…
Nội dung chương
Mấy đêm sau, ông Sáu Đạn lại ghé Vạn Niên Cư. Lần này ông tới sớm hơn, vừa đúng 0 giờ đã đứng ngoài cửa, vẫn bộ đồ lính bạc màu, vẫn chiếc võng dù rách khoác vai. Diệp An mời ông vào, hai người ngồi uống trà (thực ra chỉ mình Diệp An uống, ông Sáu Đạn chỉ ngồi nhìn với vẻ thèm thuồng của người đã ba mươi năm không được uống trà nóng).
- Bác Sáu, con hỏi thiệt, - Diệp An ngập ngừng. - Bác... bác mất khi nào? Con thấy bác còn khỏe mà.
Ông Sáu Đạn cười hiền, vỗ vỗ ngực mình:
- Già rồi, tim nó mệt cậu ơi. Bác sĩ bảo van tim tôi hở, máu bơm không đủ, có thể đi bất cứ lúc nào. Tôi thì tôi thấy cũng đáng rồi, bảy mươi mốt tuổi, sống qua chiến tranh, sống tới giờ là lời rồi. Chỉ có một điều...
- Điều gì hả bác?
- Tôi gác nghĩa địa Đa Phước mấy chục năm nay. - Ông Sáu Đạn nói, đôi mắt sâu nhìn xa xăm. - Nghĩa địa đó có một "ngôi mộ không bia", nằm khuất sau rặng bạch đàn già. Mộ không tên, không tuổi, không ai thờ cúng, cỏ mọc um tùm. Nhưng lạ lắm cậu ơi, đêm nào tôi cũng nghe tiếng cuốc xẻng lách cách quanh ngôi mộ đó, như có ai đang đào bới. Tôi rình bao lần, có đêm tôi nấp từ 10 giờ tới 3 giờ sáng, muỗi cắn sưng cả người, mà không bắt được ai. Tụi nó như ma vậy, tới không thấy hình, đi không thấy bóng.
Diệp An nghe mà da gà nổi khắp người. "Ngôi mộ không bia", tiếng cuốc xẻng đêm, rình không bắt được ai... Anh sực nhớ tới manh mối dấu đinh sắt lạ trên mộ cổ ở những chương trước, nhớ tới hai bóng người đào bới mà anh và A Lực đã thấy dưới ánh đèn pin. Tay anh run lên, làm đổ cả lọ mực pha dở trên bàn, mực đen loang ra như một vết thương.
- Cậu sao vậy? - Ông Sáu Đạn ngạc nhiên.
- Dạ... dạ không sao. - Diệp An vội lau mực, nhưng tay vẫn run. - Bác kể tiếp đi bác. Ngôi mộ không bia đó... có gì đặc biệt không?
- Đặc biệt lắm. - Ông Sáu Đạn hạ giọng, như sợ có ai nghe lén. - Tôi gác nghĩa địa mấy chục năm, tôi biết từng ngôi mộ ở đó. Nhưng ngôi mộ không bia này, tôi không biết nó có từ bao giờ. Hỏi mấy ông già trong xóm, ai cũng lắc đầu, bảo "nó ở đó từ hồi tao còn nhỏ". Có đêm tôi thấy quanh mộ có nhang cắm ngược, có đêm thấy đất mới bị xới. Tôi nghi có kẻ đào trộm mộ cổ, nhưng rình hoài không bắt được.
- Bác có báo công an không?
- Báo rồi, nhưng công an tới thì không thấy gì, đất cũng đã được lấp lại gọn gàng. - Ông Sáu Đạn thở dài. - Tôi già rồi, mắt mờ chân chậm, không làm gì được. Tôi chỉ mong... trước khi đi, có ai đó để ý tới ngôi mộ này giùm tôi. Đừng để kẻ xấu đào bới, quấy rầy người nằm dưới.
Diệp An gật đầu, lòng ngổn ngang. Anh nhớ lại lời Bảy Ve Chai: dấu đinh sắt to bằng ngón tay đóng sâu vào bia mộ cổ, nhang cắm ngược, dấu giày tây mới tinh. Tất cả những manh mối này, giờ lại thêm "ngôi mộ không bia" với tiếng cuốc xẻng đêm. Rõ ràng có một đường dây nào đó đang đào bới các ngôi mộ cổ ở Đa Phước. Và kẻ đứng sau, rất có thể là Vĩnh Hằng.
- Bác Sáu, - Diệp An nói, giọng nghiêm túc. - Bác yên tâm, con sẽ để ý chuyện này. Con có mấy anh em hay đi lại ở nghĩa địa, con sẽ nhờ họ rình giùm bác.
- Cảm ơn cậu. - Ông Sáu Đạn gật đầu, mắt rưng rưng. - Tôi chỉ sợ mình đi rồi, không ai ngó ngàng tới ngôi mộ đó nữa. Người nằm dưới đó, dù không bia không tên, cũng là người, cũng cần được yên nghỉ.
Hai người ngồi im lặng một lúc. Ngoài kia, gió heo may thổi qua hẻm, mang theo mùi hoa sữa thoang thoảng. Lạc Lạc bay tới, ngồi cạnh ông Sáu Đạn, tò mò hỏi:
- Ông ơi, hồi ông đi lính Trường Sơn, có vui không ông? Có phải như trong phim không, đánh nhau ầm ầm?
Ông Sáu Đạn cười, xoa đầu bé (dù tay ông xuyên qua đầu bé vì bé là ma, nhưng ông không biết, ông cứ xoa vào không khí, trông buồn cười lắm):
- Vui gì con ơi, chiến tranh mà. Nhưng có đồng đội bên cạnh, khổ mấy cũng chịu được. Hồi đó, tiểu đội ông mười hai người, đi đâu cũng có nhau. Tối nằm võng trong rừng, thằng Tư Bến Tre hay hát cải lương, giọng nó chua như giấm mà cả bọn vẫn vỗ tay. Con Năm Quảng Bình, con gái duy nhất trong tiểu đội, thì kể chuyện ma, kể tới đoạn ma hiện ra là cả bọn la oai oái, rồi lại cười rúc rích. Thằng Bảy Nghệ An thì hay nấu ăn, nó kiếm đâu ra cũng được rau rừng, nấu canh chua ngon hết sảy.
- Nghe vui quá ông ơi! - Lạc Lạc mắt sáng lên. - Vậy mà ông nói không vui!
- Vui là vui lúc đó thôi con. - Giọng ông trầm xuống. - Rồi chiến tranh kết thúc, chỉ còn ba người trở về. Chín đứa nằm lại trong rừng. Thằng Tư Bến Tre nằm lại ở đèo Mụ Giạ, bị bom. Con Năm Quảng Bình nằm ở dốc Ba Thang, sốt rét. Thằng Bảy Nghệ An... tới giờ vẫn chưa tìm thấy xác, không biết nằm ở góc rừng nào. Mỗi lần nhớ tới tụi nó, tim ông đau như ai bóp.
Diệp An lặng người. Anh lấy sổ tay ra, ghi chép tên từng người: Tư Bến Tre (đèo Mụ Giạ), Năm Quảng Bình (dốc Ba Thang), Bảy Nghệ An (mất tích)... Ông Sáu Đạn kể tiếp, giọng đều đều như đang điểm danh:
- Còn thằng Hai Sài Gòn, nằm ở suối Cạn. Thằng Mười Cần Thơ, nằm ở đồi Không Tên. Con Ba Huế, y tá, hy sinh khi cứu thương binh... Chín đứa, ông nhớ hết, nhớ từng đứa nằm ở đâu, nhớ cả món ăn tụi nó thích, nhớ cả câu nói đùa cuối cùng của tụi nó.
- Bác nhớ kỹ vậy? - Diệp An ngạc nhiên.
- Nhớ chứ. - Ông Sáu Đạn gật đầu. - Đồng đội mình, sao quên được. Mỗi đêm ông đều điểm danh tụi nó trong đầu, như hồi còn ở đơn vị. Điểm danh xong mới ngủ được.
Lạc Lạc nghe mà mắt đỏ hoe. Bé bay tới ôm lấy vai ông (dù không ôm được), lí nhí:
- Ông ơi, ông tốt quá. Mai mốt ông đi tìm tụi nó, ông cho em đi theo với nha? Em... em cũng muốn gặp mấy anh chị lính.
Ông Sáu Đạn cười hiền:
- Ừ, nếu con thích. Nhưng con phải hỏi anh Hai con đã, anh ấy là chủ tiệm, anh ấy cho thì con mới được đi.
Cả ba cùng cười. Không khí bớt đi phần nào nặng nề. Nhưng Diệp An vẫn không quên chuyện "ngôi mộ không bia". Anh mở cuốn sổ tay chú Bảy Trọng để lại, lật tới những trang ghi về nghĩa địa Đa Phước. Chú Bảy có ghi: "Đa Phước, nghĩa địa cổ, nhiều mộ từ thời Pháp thuộc. Có khu mộ lính vô danh. Cẩn thận kẻ đào trộm." Anh đọc đi đọc lại, lòng càng thêm quyết tâm.
Diệp An nghe mà lòng quặn lại. Anh hiểu vì sao ông muốn vẽ đường mòn Trường Sơn trong nắp hòm. Đó không chỉ là một bức tranh, đó là con đường ông sẽ đi để tìm lại đồng đội, để đoàn tụ với những người đã nằm lại mấy chục năm.
- Bác Sáu, - Diệp An nói, giọng chắc nịch. - Con hứa với bác, con sẽ vẽ con đường mòn đẹp nhất, hoa sim nở rộ nhất. Bác sẽ tìm được đồng đội của bác.
Ông Sáu Đạn gật đầu, đứng dậy, giơ tay chào kiểu nhà binh. Trước khi tan vào đêm, ông nói nhỏ:
- Cậu An, cảm ơn cậu. À, còn chuyện ngôi mộ không bia, cậu nhớ để ý giùm tôi. Tôi có linh cảm... nó quan trọng lắm.
Diệp An gật đầu, nhìn theo bóng ông khuất dần trong sương. Trong lòng anh, một quyết tâm hình thành: anh phải tìm hiểu cho ra chuyện ngôi mộ không bia này. Không chỉ vì lời dặn của ông Sáu Đạn, mà còn vì những manh mối đinh sắt, những bóng người đào bới đêm, tất cả đang chỉ về một hướng: có kẻ đang mưu đồ gì đó rất lớn với các ngôi mộ cổ ở Đa Phước.
Anh mở cuốn sổ tay, ghi chép lại những gì ông Sáu Đạn vừa kể: "Ngôi mộ không bia, sau rặng bạch đàn già, nghĩa địa Đa Phước. Tiếng cuốc xẻng đêm. Nhang cắm ngược. Đất mới xới." Rồi anh gạch dưới dòng cuối cùng ba lần, như một lời thề.
Ngoài kia, đồng hồ điểm 2 giờ sáng. Trong tiệm, lọ mực đổ lúc nãy đã được lau sạch, nhưng vết mực loang trên bàn vẫn còn đó, đen thẫm như một điềm báo.
- Anh Hai, tay anh run quá làm đổ mực rồi! - Lạc Lạc kêu lên, tay quờ quạng lau bàn. - Anh run như cầy sấy vậy!