Lên Hương - Chương 85: Bao tải thư cũ
Nửa đêm, tiếng chuông đồng trước cửa Vạn Niên Cư vang lên hai hồi ngắn, một hồi dài. Trần Diệp An đang ngồi ghi sổ thì giật mình ngẩng lên. Lạc Lạc từ…
Nội dung chương
Nửa đêm, tiếng chuông đồng trước cửa Vạn Niên Cư vang lên hai hồi ngắn, một hồi dài.
Trần Diệp An đang ngồi ghi sổ thì giật mình ngẩng lên. Lạc Lạc từ trên xà nhà nhảy phốc xuống, chỉnh lại bộ đồ bà ba trắng tinh, nghiêm trang như một cô lễ tân thực thụ:
- Có khách, anh Hai! Chuông reo kiểu này là khách mới đặt đơn đó!
Diệp An đứng dậy, vuốt lại vạt áo. Đã mấy ngày kể từ khi đám tang Bảy Lửa kết thúc, tiệm hòm trở lại nhịp điệu quen thuộc: ban ngày đóng cửa im ỉm, nửa đêm kéo nửa cánh cửa sắt đón khách cõi âm và khách cõi dương. Chiếc chìa khóa tủ sắt của Bảy Lửa vẫn nằm yên trong ngăn kéo bàn thờ tổ nghề. Anh chưa có dịp sang nhà mẹ Bảy Lửa để mở tủ. Một phần vì bận lo hậu sự, một phần vì A Lực mấy hôm nay bận đi khiêng một đám tang lớn ở quận 8.
- Để mai mốt rảnh, anh rủ anh Lực đi mở tủ.
Anh đã tự nhủ vậy mấy ngày nay. Nhưng đêm nay, có vẻ như ông trời lại giao thêm việc mới.
Người bước vào là một gia đình ba người: một người đàn ông trung niên khoảng bốn mươi lăm tuổi, một phụ nữ trạc tuổi, và một cậu thanh niên chừng hai mươi. Người đàn ông tay xách một bao tải vải bố to tướng, căng phồng, miệng bao buộc chặt bằng dây thừng. Cả ba đều đeo khăn tang trắng, mắt đỏ hoe.
- Chào cậu. Chúng tôi đến đặt hòm cho má tôi.
Người đàn ông cúi đầu chào, giọng khàn đặc vì khóc nhiều:
- Má tôi là Trần Thị Mười, sáu mươi tám tuổi, giáo viên về hưu. Bà mất hồi chiều, vì tuổi già sức yếu, ra đi thanh thản trong giấc ngủ.
Diệp An mời cả nhà ngồi xuống, rót trà. Anh mở cuốn sổ ghi đơn ra:
- Dạ, xin chia buồn cùng gia đình. Anh cho em xin thêm thông tin để ghi đơn cho đầy đủ. Cô Mười có di nguyện gì đặc biệt không ạ?
Người đàn ông và vợ nhìn nhau, rồi anh ta chỉ vào bao tải vải bố:
- Có. Di nguyện của má tôi hơi đặc biệt. Bà dặn, khi bà mất, phải lót đầy hòm bằng thư của học trò cũ. Tất cả thư từ trong bao này, cậu lót hết vào hòm cho bà.
Diệp An sững người. Hòm lót bằng thư học trò? Anh đã nghe nhiều di nguyện kỳ quặc, nhưng đây là lần đầu tiên có người muốn nằm trên... thư.
- Dạ, bao này có bao nhiêu thư vậy anh?
- Má tôi đếm rồi, hơn ba trăm bức. Bà giữ gìn cẩn thận suốt mấy chục năm, bức nào cũng ép phẳng, xếp ngay ngắn.
Người vợ chen vào, mắt đỏ hoe:
- Má chồng tôi cả đời làm cô giáo ở vùng sâu, học trò của bà đông lắm, khắp nơi đều có. Mấy chục năm nay, học trò cũ vẫn gửi thư về thăm bà đều đều. Bà quý những bức thư này hơn vàng, đi đâu cũng mang theo.
Diệp An mở miệng bao tải ra nhìn. Bên trong là những phong bì đủ màu sắc, đủ kích cỡ, xếp ngay ngắn thành từng chồng. Có những phong bì đã ngả vàng, tem cũ kỹ từ mấy chục năm trước. Có những phong bì còn mới, nét chữ nắn nót. Mùi giấy cũ, mùi mực, mùi thời gian bốc lên nồng nàn.
Anh cẩn thận lấy vài phong bì ra xem. Một phong bì đề: "Kính gửi cô Mười, học trò Nguyễn Văn Tâm". Bên trong là tờ giấy học trò kẻ ngang, nét chữ run run: "Cô ơi, con đỗ đại học rồi! Con là đứa đầu tiên của bản được đi học đại học! Cô ơi, con cảm ơn cô!" Diệp An đọc mà thấy sống mũi cay cay.
Một phong bì khác, giấy đã ố vàng, nét chữ nguệch ngoạc như gà bới: "Cô Mười ơi, em xin lỗi cô vì hôm qua em trốn học đi bắt cá. Em hứa từ nay không trốn học nữa. Cô đừng giận em nhé. Học trò hư của cô." Cuối thư còn vẽ một con cá bằng bút chì, xấu đến buồn cười.
Diệp An phì cười, rồi lại thấy mắt mình cay cay. Anh tưởng tượng ra cảnh một cậu bé vùng sâu, sau khi trốn học đi bắt cá về, ngồi cặm cụi viết thư xin lỗi cô giáo bằng nét chữ gà bới, còn vẽ thêm con cá để làm cô vui. Tình cảm học trò dành cho cô giáo, mộc mạc mà chân thành đến vậy.
Anh đọc tiếp một bức nữa, lần này là của một phụ nữ đã có chồng con: "Cô ơi, con là con bé Út Lùn năm xưa hay khóc nhè đây. Cô còn nhớ không, hồi đó con học dốt, bạn bè trêu chọc, con đòi bỏ học. Cô đã đến tận nhà, nói chuyện với ba má con suốt một buổi chiều, rồi từ đó kèm con học mỗi tối. Giờ con đã là cô giáo như cô, đang dạy ở chính ngôi trường xưa. Cô ơi, con đang tiếp bước cô đây."
- Cô Mười dạy ở vùng sâu nào vậy anh?
Diệp An hỏi, tay vẫn lật từng phong bì, giọng đã hơi nghẹn. Người con trai đáp:
- Má tôi dạy ở một xã vùng sâu của tỉnh Đồng Tháp, gần biên giới Campuchia. Hồi đó đường sá khó khăn lắm, má phải đi xuồng mấy tiếng đồng hồ mới đến trường. Bà dạy ở đó hơn ba mươi năm, đến khi về hưu mới về Sài Gòn ở với chúng tôi.
Người con trai kể, ánh mắt đầy tự hào về mẹ mình:
- Hồi đó, cả xã chỉ có một ngôi trường tranh tre, mưa dột, nắng hắt. Má tôi vừa là hiệu trưởng, vừa là giáo viên, vừa là người nấu cơm cho học trò ở bán trú. Có năm lũ lớn, trường ngập đến đầu gối, má vẫn chèo xuồng đến từng nhà vận động phụ huynh cho con đi học. Bà bảo, nghỉ một ngày là các con mất một ngày chữ.
- Ba mươi năm ở vùng sâu?
Diệp An thán phục. Anh là thủ khoa mỹ thuật mà còn thất nghiệp, trong khi có những người dành cả thanh xuân cho những bản làng xa xôi, dạy chữ cho trẻ em nghèo. So ra, anh thấy mình nhỏ bé quá. Anh chợt nghĩ đến chú Bảy, người cũng đã dành ba mươi năm trấn giữ tiệm hòm ở con hẻm này. Có những con người, cả đời chỉ làm một việc, nhưng việc ấy cao quý đến mức khiến người khác phải cúi đầu.
Cậu thanh niên nãy giờ im lặng chợt lên tiếng:
- Bà nội em thương học trò lắm. Hồi em còn nhỏ, bà hay kể chuyện những đứa học trò của bà. Có đứa nhà nghèo không có tiền mua sách, bà mua cho. Có đứa ốm đau, bà cõng đi trạm xá. Bà bảo, mỗi đứa học trò là một hạt giống, bà chỉ là người gieo hạt thôi.
Diệp An gật đầu, lòng đầy kính trọng. Anh cẩn thận xếp những phong bì lại vào bao tải, ghi vào sổ: "Hòm lót đầy thư học trò, hơn 300 bức."
Khi anh đang sắp xếp lại bao tải, tay anh chợt khựng lại. Giữa đống thư, có một phong bì khác hẳn những phong bì còn lại. Phong bì màu trắng ngà, không đề tên người gửi, không đề tên người nhận, chỉ có dấu bưu điện mờ mờ. Anh cầm lên xem kỹ: dấu bưu điện Huế.
Tim anh đập thình thịch. Anh lật phong bì lại, nhìn nét chữ viết địa chỉ. Nét chữ run run, xiêu vẹo, nhưng quen thuộc đến nhói lòng. Đó là nét chữ mà anh đã nhìn thấy hàng ngàn lần trong những lá thư chú Bảy để lại, trong những dòng ghi chép trên cuốn sổ pha mực, trong những tờ giấy nháp vẽ phác thảo mà chú vứt đầy tiệm.
Nét chữ của chú Bảy Trọng.
Tay Diệp An run bần bật, phong bì suýt rơi khỏi tay. Lạc Lạc thấy vậy vội chạy đến đỡ:
- Anh Hai, anh sao vậy? Mặt anh trắng bệch như ma!
- ... Không có gì. Em... em rót thêm trà cho khách đi.
Diệp An cố giữ giọng bình tĩnh, nhưng tim anh đang đập như trống trận. Một phong bì không tên người gửi, dấu bưu điện Huế, nét chữ của chú Bảy, nằm lẫn trong bao tải thư của cô giáo Mười. Chuyện gì đang xảy ra vậy?
Anh lén nhét phong bì vào túi áo, quyết định sẽ mở ra xem sau khi khách về. Gia đình cô Mười không hay biết gì, họ còn đang bận bàn bạc về kích thước hòm và ngày giờ khâm liệm.
Đêm đó, sau khi tiễn khách về, Diệp An ngồi một mình trong tiệm, tay cầm phong bì không tên, lòng ngổn ngang trăm mối. Chú Bảy đã mất tích mấy tháng nay, không một tin tức. Giờ đây, một phong bì mang nét chữ của chú xuất hiện trong đống thư của một cô giáo vùng sâu vừa mất. Đây là trùng hợp ngẫu nhiên, hay là chú Bảy cố tình gửi gắm thông điệp gì?
Ngoài cửa, ngọn đèn lồng lụa trắng đung đưa trong gió đêm, ánh sáng chập chờn như đang thì thầm: mở ra đi, mở ra đi.