Linh Quang Giám Bảo - Quyển 2: Minh Khí Quỷ Ám - Chương 25: Cơn Sóng Từ Cù Lao Chàm

Nắng sớm sau cơn mưa rào trút xuống những tán me già trên đường Lê Công Kiều, hắt qua rèm trúc chiếu vào ban công tầng hai của Linh Bảo Đường. Không khí…

Nội dung chương

Nắng sớm sau cơn mưa rào trút xuống những tán me già trên đường Lê Công Kiều, hắt qua rèm trúc chiếu vào ban công tầng hai của Linh Bảo Đường. Không khí buổi ban mai mang theo hơi ẩm ngai ngái của đất cát và mùi lá mục, xua bớt mùi cồn tuyệt đối cùng hóa chất tẩy rửa còn vương lại trong phòng phục chế ngầm suốt đêm qua.

Lâm Tuấn tựa tay vào lan can gỗ lim, nhấp một ngụm trà mạn đã nguội. Đôi mắt anh hơi trũng sâu vì trọn một đêm thức trắng giải độc cho phiến ngọc Tự Đức ngự ban, nhưng thần sắc đã khôi phục sự trầm tĩnh vốn có. Khối Huyết Ngọc Long Phụng cùng đường dây buôn lậu của Triệu Vĩnh và Trần Bá Hùng đã chính thức được chuyển giao cho cơ quan điều tra cùng Viện Kiểm sát. Cơn sóng gió chốn thương trường đồ cổ Sài thành tạm thời lắng xuống.

Tiếng bước chân gấp gáp trên cầu thang gỗ kéo Lâm Tuấn quay đầu lại.

Diệp Nhi cầm một chiếc hộp các-tông vuông vắn bước ra ban công. Chiếc hộp có kích thước cỡ một gang tay, bên ngoài bọc giấy xi măng thô ráp, bốn góc dán băng dính màu vàng đục. Đáng chú ý nhất là con tem bưu chính đóng dấu bưu cục Hội An - Quảng Nam, bên dưới ghi dòng chữ viết tay bằng mực tàu nét đậm: "Chuyển giao cho truyền nhân họ Lâm của Linh Bảo Đường".

- Bưu tá giao hỏa tốc đến trước cửa từ lúc sáu giờ sáng - Diệp Nhi đặt chiếc hộp lên chiếc bàn đá tròn - Người gửi không dùng dịch vụ thông thường mà thuê một đơn vị vận chuyển tư nhân từ miền Trung chuyển thẳng vào đây. Họ yêu cầu bàn giao tận tay anh, không qua bất kỳ khâu trung gian nào.

Lâm Tuấn đặt chén trà xuống, ánh mắt rơi vào lớp giấy gói. Khi anh cúi người xuống gần chiếc hộp, một luồng mùi vị đặc thù lập tức xộc vào cánh mũi: mùi muối mặn chát của biển sâu quyện lẫn mùi tanh nồng của xác sinh vật phù du và rong rêu khô quắt. Mùi vị ấy hoàn toàn khác biệt với mùi ẩm mốc của những ngôi mộ cổ chốn đồng bằng hay mùi đất sét của đồ tùy táng trong lòng đất.

Đây là mùi của đại dương. Mùi của những thứ nằm dưới đáy nước hàng trăm năm.

Lâm Tuấn rút con dao rọc giấy bằng thép không gỉ trên túi áo, cẩn thận rạch lớp băng keo niêm phong. Bên dưới lớp bìa các-tông là nhiều lớp rơm khô bện chặt cùng những mảnh vải xô ẩm ướt, tẩm ướp một lớp dung dịch giữ ẩm đặc chế để ngăn cổ vật bị biến đổi cấu trúc khi tiếp xúc đột ngột với không khí khô ráo trên cạn.

Gạt lớp rơm sang hai bên, một vật thể cứng cáp lộ ra.

Đó là một mảnh gốm vỡ lớn bằng bàn tay xòe rộng, dày chừng nửa đốt ngón tay, mép vỡ lởm chởm nhưng các đường gãy rất dứt khoát. Nhìn vào độ cong của vành và xương gốm, Lâm Tuấn nhận ra ngay đây là phần thân nối liền với chân đế của một chiếc đĩa gốm lớn hoặc một chiếc âu men hoa lam.

- Gốm hoa lam thời Lê sơ? - Diệp Nhi cúi xuống nhìn, đôi mắt mở to - Nhưng bề mặt của nó...

- Đúng vậy, men lam Chu Đậu thế kỷ mười lăm - Lâm Tuấn khẽ nói, đeo đôi găng tay vải trắng vào tay rồi cẩn thận nâng mảnh gốm lên ngang tầm mắt.

Dưới ánh nắng ban mai rọi xiên qua kẽ lá, vẻ đẹp cổ kính của hiện vật hiển hiện một cách kỳ dị. Trên nền men trắng ngà ngả sang sắc vàng nhạt của tro trấu, những nét vẽ bằng màu lam cobalt thể hiện họa tiết hoa cúc dây uốn lượn mềm mại. Lối vẽ phóng bút tự nhiên mang đậm phong cách dân gian của các nghệ nhân làng gốm Chu Đậu vùng Hải Dương xưa kia. Màu lam chìm sâu dưới lớp men trong, có những chỗ tụ đọng hạt oxit coban tạo thành các điểm đen sẫm đặc trưng của dòng gốm ngự dụng và xuất khẩu thời bấy giờ.

Thế nhưng, điều khiến mảnh gốm trở nên đặc biệt nằm ở lớp vỏ bọc thời gian bám chặt bên ngoài nó.

Bề mặt men gốm không còn bóng nhẵn như đồ gia bảo lưu truyền trong đất liền. Nước mặn đại dương cùng áp suất nước sâu hàng trăm mét qua hơn năm thế kỷ đã xâm thực lớp men ngoài cùng, tạo thành vô số vết rỗ li ti, ráp mịn, mà giới sành đồ cổ miền biển gọi là hiệu ứng "da cóc". Lớp da cóc này phản chiếu ánh sáng tán xạ mờ đục, là chứng chỉ tự nhiên không một lò gốm giả cổ hiện đại nào có thể làm giả bằng axit.

Bên cạnh đó, bám chặt vào mép vỡ và mặt trong của mảnh gốm là một cụm vỏ hà biển hóa thạch. Những chiếc vỏ hà nhỏ li ti kết tinh cứng như đá vôi, bám rễ sâu vào từng đường rạn chân chim của lớp men. Chúng chứng minh rằng mảnh gốm này đã trải qua hàng trăm năm nằm im dưới đáy biển sâu, cùng chung số phận với một con tàu đắm từ thời đại hoàng kim của con đường tơ lụa trên biển.

- Vết hà bám kiểu này chỉ hình thành ở độ sâu từ ba mươi đến bốn mươi mét trở lên, nơi có dòng hải lưu lạnh chảy qua - Lâm Tuấn đưa ngón tay trỏ miết nhẹ qua cụm vỏ hà hóa thạch - Đây là một mảnh gốm vớt từ con tàu đắm cổ ở vùng biển miền Trung. Nhưng tại sao người gửi lại nhắm vào Linh Bảo Đường?

Lâm Tuấn lật úp mảnh gốm lại để quan sát phần trôn đế.

Đế gốm Chu Đậu thế kỷ mười lăm thường được người xưa quét một lớp nước phù sa đỏ mỏng trước khi nung, gọi là men son đáy. Lớp men son này qua thời gian dưới nước biển đã phai nhạt, nhường chỗ cho một lớp cặn san hô trắng nhờ bám xung quanh vành chân đế.

Lâm Tuấn cầm chiếc cọ lông chồn chuyên dụng trên bàn, chấm một giọt cồn loãng rồi quét nhẹ lên phần tâm của đáy gốm để làm sạch lớp bụi muối kết tinh.

Dưới lớp lông cọ quét qua, một chi tiết bất thường dần dần lộ diện.

Đó không phải là vết rạn men tự nhiên, cũng không phải là hoa văn của người thợ gốm thời Lê sơ.

Nằm ẩn sâu dưới lớp rêu biển khô cứng là bốn nét khắc chìm sắc gọn, dứt khoát. Người khắc đã dùng một mũi khoan kim cương hoặc lưỡi dao thép hợp kim siêu cứng để vạch lên cốt gốm nung già đanh. Nét khắc tạo thành hình tượng một bông hoa sen sáu cánh cách điệu, chính giữa nhụy sen là một chữ "Lâm" viết theo lối triện thư cổ kính.

Bàn tay Lâm Tuấn khẽ khựng lại giữa không trung.

Hơi thở của anh đột ngột dồn dập. Đôi mắt sắc bén thường ngày dán chặt vào bông hoa sen sáu cánh trên trôn gốm vỡ.

Đó là gia huy của dòng họ Lâm.

Chính xác hơn, đó là ký hiệu cá nhân mà cha anh - Lâm Chấn Hải - đã tự tay thiết kế và khắc lên tất cả các công cụ lặn chuyên dụng của mình trước mỗi chuyến khảo sát thực địa. Bông hoa sen sáu cánh tượng trưng cho sáu đời truyền thừa nghề giám bảo của gia tộc, còn chữ "Lâm" triện thư được khắc theo đúng bản rập trên chiếc ấn ngà của cụ cố để lại.

Mười năm trước, Lâm Chấn Hải đột ngột rời khỏi tiệm Linh Bảo Đường sau khi nhận được một bức hải đồ cổ từ một người bạn vạn chài miền Trung. Ông mang theo toàn bộ thiết bị lặn biển chuyên sâu cùng lời hứa sẽ trở về sau nửa tháng với câu trả lời cho một bí mật khảo cổ ngàn năm.

Nửa tháng ấy biến thành mười năm đằng đẵng.

Cơ quan chức năng chỉ tìm thấy chiếc cano trôi dạt không người lái của ông ngoài khơi vùng biển Quảng Nam, bên trong trống rỗng. Mọi nỗ lực tìm kiếm cứu hộ khi đó đều chìm vào vô vọng trước những cơn sóng dữ của biển Đông. Người ta kết luận ông đã gặp nạn trong một cơn lốc xoáy bất ngờ. Nhưng Lâm Tuấn chưa bao giờ tin cha mình chết vì một tai nạn sông nước tầm thường. Lâm Chấn Hải là một tay lặn cừ khôi, thông thuộc từng luồng lạch, từng vỉa đá ngầm ở dải đất miền Trung từ khi còn trẻ.

Và hôm nay, vật tùy thân mang ấn ký của cha anh lại xuất hiện trên một mảnh gốm Chu Đậu trục vớt từ đáy biển, gửi thẳng về địa chỉ của Linh Bảo Đường.

- Anh Tuấn... có chuyện gì vậy? - Diệp Nhi nhận ra sự biến đổi trên khuôn mặt anh, cô bước lại gần hơn, nhìn xuống đáy mảnh gốm - Ký hiệu này...

- Là dấu ấn của cha tôi - Giọng Lâm Tuấn khàn đặc, các khớp ngón tay nắm chặt đến mức trắng bệch - Cha tôi từng dùng dao khắc đá chạm ký hiệu này lên những cổ vật mà ông trực tiếp trục vớt hoặc giám định sơ bộ tại hiện trường. Mảnh gốm này... chính là thứ ông đã cầm trên tay mười năm trước.

"Choang!"

Một tiếng động chói tai vang lên từ phía cửa dẫn ra ban công.

Lão Hải - người trợ tá lâu năm của Linh Bảo Đường, người đã theo phụ việc cho Lâm Chấn Hải từ thời trai trẻ - đang đứng sững sững nơi bậu cửa. Chiếc khay trà bằng đồng trên tay ông rơi tự do xuống sàn gạch bông, hai tách trà vỡ tan tành, nước trà vàng sẫm loang lổ dưới chân.

Đôi mắt đục ngầu của lão Hải trừng trừng nhìn vào mảnh gốm vỡ nằm trong lòng bàn tay Lâm Tuấn. Đôi môi lão mấp máy, run rẩy không thốt nên lời, sắc mặt tái nhợt như vừa nhìn thấy bóng ma từ cõi chết trở về.

- Lão Hải? - Lâm Tuấn quay phắt lại, giọng nói đanh thép - Bác biết thứ này?

Lão Hải run rẩy bước tới, đôi chân già nua như muốn khuỵu xuống. Ông không màng đến những mảnh sứ vỡ dưới sàn, run rẩy quỳ một chân xuống cạnh chiếc bàn đá, hai bàn tay thô ráp đầy vết sẹo của dân đi biển đưa ra nhưng không dám chạm vào mảnh gốm:

- Gốm Chu Đậu... men da cóc bám hà đá... Lại còn... lại còn gia huy hoa sen của Chấn Viễn đại ca... Trời đất ơi, con tàu đó... con tàu đó thực sự đã trồi lên rồi!

- Bác Hải, bình tĩnh lại đã! - Lâm Tuấn cúi người đỡ lấy bả vai lão Hải, truyền một luồng kình lực ấm áp sang người ông - Bác nói "con tàu đó" là con tàu nào? Cha cháu mười năm trước đã đi đâu? Chiếc đĩa gốm này từ đâu mà có?

Lão Hải hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dữ dội. Ông đưa tay áo quẹt vội giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán, ánh mắt nhìn Lâm Tuấn vừa đau đớn vừa kinh hãi:

- Cậu Tuấn... Mười năm nay tôi ngậm miệng không nói nửa lời, bởi vì Chấn Viễn đại ca trước khi ra đi đã bắt tôi thề độc trước bàn thờ tổ. Đại ca bảo, nếu đại ca không trở về, tuyệt đối không được để cậu dính líu đến vùng biển chết đó. Nhưng hôm nay... người ta đã gửi tận mảnh gốm này về đây, nghĩa là bọn họ không chịu buông tha cho dòng họ Lâm!

- Bọn họ là ai? - Diệp Nhi nhíu mày, rút chiếc máy ghi âm mini ra khỏi túi áo - Bác Hải, vụ việc này có liên quan đến các tổ chức buôn lậu cổ vật biển hay không?

Lão Hải lắc đầu quầy quậy, giọng nói đượm vẻ run sợ:

- Buôn lậu chỉ là phần nổi thôi cô Diệp. Nơi Chấn Viễn đại ca lặn xuống mười năm trước là bãi ngầm phía đông Cù Lao Chàm. Đó là vị trí của một xác tàu buôn cổ thế kỷ mười lăm chở hàng vạn món đồ gốm Chu Đậu ngự chế triều Lê. Nhưng con tàu đó không chìm vì bão tố thông thường. Nó nằm đè lên một miệng vực hải lưu ngầm, bao quanh bởi những bãi đá san hô răng cưa sắc như dao cạo. Ngư dân vùng biển Cửa Đại gọi đó là "Vực Quỷ".

Lão Hải chỉ ngón tay run rẩy vào mảnh gốm Chu Đậu trên bàn:

- Mười năm trước, có một nhóm người lạ mặt mang quốc tịch nước ngoài mang theo trang thiết bị lặn tối tân nhất tìm đến Linh Bảo Đường. Bọn chúng đưa ra một tấm bản đồ da cừu cổ ghi lại tọa độ của con tàu đắm Cù Lao Chàm, yêu cầu đại ca đi cùng với tư cách là chuyên gia giám định và dẫn đường dưới đáy biển. Đại ca ban đầu kiên quyết từ chối vì biết vùng biển đó là cấm địa nguy hiểm, nhưng sau đó bọn chúng đưa ra một món đồ...

- Món đồ gì? - Lâm Tuấn gặng hỏi, ánh mắt lóe lên tia lạnh lẽo.

- Một chiếc trâm cài tóc bằng ngọc bích của mẹ cậu - Lão Hải nghẹn ngào nói - Mẹ cậu mất tích trên biển từ khi cậu mới ba tuổi. Đại ca nhìn thấy chiếc trâm đó thì biết mẹ cậu năm xưa rất có thể đã gặp nạn tại chính vùng biển Cù Lao Chàm. Đại ca không còn cách nào khác, đành phải nhận lời theo bọn chúng ra khơi. Trước khi đi, đại ca dặn tôi ở lại trông coi cậu và Linh Bảo Đường. Đại ca nói nếu sau một tháng không thấy tin tức, hãy coi như đại ca đã gửi thân xác cho sóng biển, tuyệt đối không được đi tìm.

Lâm Tuấn siết chặt mảnh gốm trong tay. Những cạnh sắc lởm chởm của xương gốm ép vào lớp vải găng, nhưng anh không hề cảm thấy đau đớn.

Những mảnh ghép mờ mịt trong ký ức tuổi thơ của anh bấy lâu nay bỗng chốc được kết nối lại bằng một sợi dây vô hình. Người mẹ biến mất bí ẩn, chuyến đi định mệnh của người cha mười năm trước, và giờ đây là mảnh gốm Chu Đậu trôi dạt từ vùng biển Cù Lao Chàm.

Tất cả đều bắt nguồn từ cùng một tọa độ ngoài đại dương xa xôi.

- Nhóm người nước ngoài mười năm trước có đặc điểm gì nhận dạng không bác Hải? - Lâm Tuấn trầm giọng hỏi.

- Bọn chúng nói tiếng Quảng Đông pha lẫn tiếng Anh - Lão Hải cố gắng lục tìm ký ức - Tên cầm đầu là một gã đàn ông trung niên chột một mắt, trên cổ tay có xăm hình một con bọ cạp màu đỏ sẫm...

Lâm Tuấn và Diệp Nhi đồng thời biến sắc, đưa mắt nhìn nhau.

Vết sẹo hình bọ cạp.

Đó chính là dấu hiệu của tổ chức buôn bán cổ vật ngầm mà Triệu Vĩnh và Trần Bá Hùng từng nhắc tới trước khi bị bắt. Bọn chúng đã vươn vòi bạch tuộc vào đất liền thông qua vụ án Huyết Ngọc Long Phụng, và gốc rễ sâu xa của bọn chúng dường như đã cắm rễ ở vùng biển miền Trung từ hàng chục năm trước.

Diệp Nhi bước tới bên chiếc hộp bưu phẩm, dùng nhíp chuyên dụng lật mở phong bì dán kín đáy hộp mà ban nãy chưa ai để ý tới. Bên trong phong bì không có thư tay, chỉ có một tấm ảnh vệ tinh đen trắng in trên giấy chống nước, chụp lại một vùng biển với những chấm đỏ đánh dấu tọa độ đan xen chằng chịt, kèm theo một dòng tọa độ địa lý viết nguệch ngoạc:

*15°57'N - 108°31'E. Đáy rạn san hô Bãi Hương, Cù Lao Chàm.*

Phía dưới dòng tọa độ là một con số đếm ngược bằng mực đỏ: *Còn 7 ngày.*

- Bảy ngày nữa là thời điểm hiện tượng triều cường thấp nhất trong năm xuất hiện tại vùng biển Quảng Nam - Diệp Nhi đọc nhanh các thông số hải văn trên điện thoại - Khi triều rút sâu nhất, dòng hải lưu ngầm tại rạn san hô Cù Lao Chàm sẽ yếu đi trong vòng bốn mươi tám tiếng. Đó là cửa sổ thời gian duy nhất trong cả năm để các thiết bị lặn sâu có thể tiếp cận xác con tàu đắm mà không bị dòng xoáy nghiền nát.

Cô ngẩng đầu nhìn Lâm Tuấn, ánh mắt ngập tràn lo âu xen lẫn quyết tâm:

- Kẻ gửi mảnh gốm này không phải ngẫu nhiên mà chọn thời điểm này. Bọn chúng biết vụ án Trần Bá Hùng vừa kết thúc, anh đã rảnh tay. Đây là một lời khiêu chiến, đồng thời cũng là một chiếc bẫy được giăng sẵn dưới đáy biển sâu. Bọn chúng muốn dùng tung tích của cha anh để kéo anh ra Cù Lao Chàm.

Lâm Tuấn không đáp. Anh nhẹ nhàng đặt mảnh gốm Chu Đậu lên tấm vải nhung đỏ trên bàn đá.

Dưới ánh nắng sớm rực rỡ, lớp men da cóc của mảnh gốm cổ lấp lánh những tinh thể muối biển chưa tan hết. Màu xanh cobalt thời Lê sơ vẫn trầm mặc, uy nghiêm, như đang cất giữ trọn vẹn những bí mật của tiền nhân cùng số phận của người cha thân yêu của anh dưới hàng chục mét nước mặn.

Anh bước lại gần lan can, phóng tầm mắt về phía bầu trời phương Đông. Nơi ấy, những đám mây xám nặng trĩu đang tụ lại phía chân trời xa xôi, báo hiệu một cơn bão biển đang âm thầm thành hình ngoài khơi vịnh Đà Nẵng.

Mười năm chờ đợi, mười năm rèn giũa đôi bàn tay phục chế và đôi mắt giám định báu vật, Lâm Tuấn biết ngày này cuối cùng cũng đã đến. Anh không thể tiếp tục đứng nhìn Linh Bảo Đường an phận nơi góc phố cổ Sài Gòn khi linh hồn của người thân và bảo vật quốc gia vẫn đang bị giam cầm dưới đáy biển sâu bởi bàn tay của những kẻ tàn bạo.

- Bác Hải, chuẩn bị cho cháu bộ đồ nghề lặn biển chuyên dụng và hòm dụng cụ giám định dã ngoại - Lâm Tuấn quay người lại, giọng nói đanh thép vang lên giữa ban công lộng gió - Diệp Nhi, liên hệ với văn phòng Quỹ Di sản chi nhánh Đà Nẵng, yêu cầu bọn họ cấp cho chúng ta giấy phép khảo sát khẩn cấp vùng biển Cù Lao Chàm.

Lão Hải nhìn thẳng vào mắt chàng trai trẻ họ Lâm, nhận thấy trong ánh mắt kiên định ấy có bóng hình của Lâm Chấn Hải năm nào. Lão biết mình không thể ngăn cản được nữa. Lão thở dài một tiếng, nhưng sống lưng già nua bỗng chốc thẳng lại:

- Rõ, cậu Tuấn. Tôi sẽ đi cùng cậu. Lão già này từng lặn ngụp ở vùng biển Cửa Đại suốt ba mươi năm, luồng lạch Cù Lao Chàm có biến đổi thế nào cũng không qua mắt được tôi.

Diệp Nhi gật đầu dứt khoát, bấm số điện thoại nội bộ của Quỹ Di sản:

- Em sẽ đi cùng anh. Lực lượng Cảnh sát biển khu vực hai cũng đang theo dõi các hoạt động nạo vét trái phép tại vùng biển này. Chúng ta sẽ không đơn độc bước vào trận chiến này.

Lâm Tuấn đưa tay chạm nhẹ vào bông hoa sen sáu cánh trên đáy mảnh gốm Chu Đậu một lần nữa. Cảm giác sắc lạnh của cốt gốm truyền qua đầu ngón tay như một lời nhắc nhở thiêng liêng từ quá khứ.

Cơn sóng ngầm từ Cù Lao Chàm đã vỗ tới bậc thềm Linh Bảo Đường. Và người truyền nhân họ Lâm sẽ đạp lên chính những ngọn sóng dữ ấy để tìm lại công lý cho gia tộc.

Chương khác

Xem thêm