Linh Quang Giám Bảo - Quyển 4: Huyết Ấn Truyền Quốc - Chương 10: Vết Cắt Trên Vách Đá Vôi

Màn mưa rừng Tam Điệp trút xuống mỗi lúc một nặng hạt, quất từng luồng rát rạt vào những tán cây cọ gai và đá tai mèo lởm chởm. Trước mặt đội khảo sát,…

Nội dung chương

Màn mưa rừng Tam Điệp trút xuống mỗi lúc một nặng hạt, quất từng luồng rát rạt vào những tán cây cọ gai và đá tai mèo lởm chởm. Trước mặt đội khảo sát, vách núi đá vôi Thung Thần dựng đứng như một bức tường thành đen trũi vươn thẳng lên trời cao hơn hai trăm mét. Thảm thực vật nhiệt đới gồm rêu ẩm, dương xỉ cổ và những búi rễ si bám chằng chịt phủ kín từ đỉnh xuống chân, tạo nên diện mạo của một khối địa chất hoang sơ chưa từng có dấu chân người lui tới suốt hàng ngàn năm.

Chiếc kim đồng thau trên mặt la kinh cổ của Lão Hải vẫn dán chặt vào thành kim loại, phát ra những tiếng rung bần bật. Đầu kim chúc xuống một góc mười lăm độ, chỉ thẳng vào điểm giao nhau giữa tầng rêu xanh rậm rạp và chân vách đá dựng đứng.

Lâm Tuấn đưa tay ra hiệu cho cả đoàn dừng lại. Anh bước chậm rãi về phía chân vách núi, đôi giày dã chiến lún sâu vào lớp bùn nhão lẫn mùn lá mục bốc mùi hăng nồng. Dải khăn tang cổ thắt quanh cổ tay phải của anh khẽ siết lại, từng thớ vải gai thô ráp cọ sát vào da thịt mang theo cảm giác buốt lạnh quen thuộc. Dưới cái nhìn của đôi mắt Giám Bảo, tầng tầng lớp lớp hào quang màu tím vàng chìm sâu sau lớp vỏ đá vôi không hề có dạng phân tán ngẫu nhiên của khoáng vật tự nhiên. Luồng sáng ấy kết tụ thành những đường kỷ hà sắc cạnh, vuông vức, chạy dài theo một trục thẳng tắp bị chôn vùi.

Tô Diệp Nhi cùng hai chiến sĩ công binh tiến lên che chắn phía sau lưng anh. Nòng súng ngắn quân dụng của cô hạ thấp nhưng ngón trỏ vẫn đặt hờ bên ngoài vòng cò, đôi mắt cảnh giác quét qua từng lùm cây rậm rạp xung quanh lòng thung lũng.

- Vách đá liền khối hoàn toàn. - Một người lính công binh trẻ tên Thắng ghé sát chiếc đèn pin bọc kính đỏ vào vách đá, bàn tay mang găng dã chiến gõ thử vài nhịp lên mặt đá xám xịt. - Tiếng gõ đục và nặng, không có dấu hiệu hang rỗng nhân tạo ở tầm ngang ngực này.

- Đừng nhìn bằng mắt thường, cậu Thắng. - Lão Hải chống chiếc gậy tre bọc đồng xuống bùn, khom lưng bước tới cạnh Lâm Tuấn. - Đất Thung Thần này là thế hổ phục. Con hổ muốn giấu mồi thì không đời nào để lộ miệng hang trên mặt đất cho thợ săn dòm ngó. Vách đá trước mặt chúng ta nhìn qua tưởng chừng là đá mẹ tự nhiên, nhưng thế nứt nẻ lại trái với quy luật phong hóa tự nhiên của núi đá vôi vùng nhiệt đới gió mùa. Đá vôi karst nứt theo thớ dọc hoặc sụt theo vòm trần, đằng này vết nứt lại chạy ngang một cách gượng gạo.

Lâm Tuấn rút con dao găm dã chiến bằng thép tôi từ thắt lưng ra. Anh không chém loạn xạ vào đám dây leo mà dùng mũi dao cẩn thận tách từng mảng rêu xanh dày cộp bám trên mặt đá ở độ cao cách mặt đất chừng một mét hai.

Lớp rêu này đã tích tụ hàng trăm năm, rễ của chúng tiết ra axit hữu cơ ăn mòn lớp canxit bề mặt tạo thành một màng bùn vôi nhơn nhớt. Nhưng khi lưỡi thép cạo sâu qua lớp mùn hữu cơ dày gần năm phân, một bề mặt đá nhẵn nhụi bất thường lộ ra dưới ánh sáng đỏ mờ ảo.

Đó là một vết cắt nhân tạo sắc lẹm.

Đường cắt sâu hoắm, ăn thẳng vào thớ đá vôi xanh xám với độ nghiêng chuẩn xác đến kinh ngạc. Khi Lâm Tuấn tiếp tục cạo sạch lớp rêu bám xung quanh vết nứt, một ký tự cổ khắc chìm dần dần hiện hình.

Ký tự ấy vuông vức, nét ngang dài đè lên một nét sổ đứng có móc nhẹ về phía bên trái.

Một chữ "Đinh" (丁) được đục sâu tới hai đốt ngón tay vào đá tảng.

Lâm Tuấn tháo chiếc găng tay bảo hộ bên tay phải, chậm rãi áp lòng bàn tay trần lên bề mặt chữ "Đinh" lạnh buốt.

Một luồng rung động dồn dập từ cổ tay truyền thẳng vào hệ thần kinh của anh. Dải khăn tang cổ nóng rực lên. Không khí xung quanh như đặc quánh lại, tiếng mưa rừng rào rạt bên tai bỗng chốc lùi xa, nhường chỗ cho những thanh âm vọng ngược từ hai thế kỷ trước đang dội về từ lòng đá.

Keng! Keng! Keng!

Tiếng búa sắt nện vào đục thép vang lên chát chúa, dồn dập trong một không gian ngột ngạt khét lẹt mùi thuốc súng và khói dầu trẩu. Trước mắt tâm thức của Lâm Tuấn hiện lên bóng dáng của những người thợ đá vạm vỡ, lưng trần bóng nhẫy mồ hôi hòa lẫn bụi đá trắng xóa. Những đường gân trên cánh tay họ cuộn lên theo từng nhát búa dứt khoát. Họ dùng kỹ thuật đục vát mép, gọt từng góc cạnh của phiến đá vôi nặng hàng tấn sao cho khi xếp chồng lên nhau, các bề mặt tiếp giáp khít khao đến mức một sợi tóc cũng không lọt qua nổi.

Đó là kỹ thuật ghép đá khan không vữa lừng danh của các hiệp thợ thành Tây Đô thời nhà Hồ, được bảo lưu và truyền ngầm qua nhiều đời thợ đá vùng Thanh - Nghệ cho đến tận thời Lê Trung Hưng. Thay vì dùng vữa tam hợp từ vôi, cát và mật mía, những người thợ bậc thầy này tính toán chính xác trọng tâm và lực nén của từng khối đá. Các phiến đá được đẽo gọt mộng âm dương cài chặt vào nhau, tận dụng chính trọng lượng ngàn cân của vách núi bên trên để khóa chặt cấu trúc bên dưới. Càng chịu lực nén lớn từ sườn núi đè xuống, các khớp mộng đá càng ghì chặt vào nhau, tạo thành một khối kiên cố vĩnh cửu.

Bàn tay Lâm Tuấn run lên khi ngón tay anh chạm vào đáy nét sổ đứng của chữ "Đinh".

Ở đáy rãnh đục, anh cảm nhận được một vệt gãy nham nhở bất thường. Nhát búa cuối cùng hạ xuống đây không mang sự điềm tĩnh của một nghệ nhân hoàn thiện tác phẩm, mà là sự run rẩy, hoảng loạn cùng cực của một người thợ biết rõ kết cục bi thảm đang chờ đợi mình.

Mùi khét bốc lên nồng nặc trong luồng tàn ảnh. Đó là mùi của thuốc súng đen cổ truyền.

Thứ thuốc súng này được pha chế theo tỷ lệ đặc trưng của quân doanh thời Lê Trung Hưng: bảy phần diêm tiêu khai thác từ hang dơi, một phần rưỡi than gỗ xoan đốt kín khí, và một phần rưỡi lưu huỳnh mỏ thô chưa tinh luyện hoàn toàn. Hỗn hợp này cháy chậm hơn thuốc súng hiện đại nhưng khi nén chặt trong các lỗ khoan đá và kích nổ, nó sinh ra một thể tích khí cực lớn cùng nhiệt lượng dữ dội, đủ sức làm vỡ vụn các cấu trúc đá vôi giòn bên ngoài và kích hoạt vụ sụt lở có chủ đích để chôn vùi toàn bộ lối vào.

Những người thợ đá ấy sau khi hoàn tất công trình niêm phong đã bị chôn sống ngay tại đây bởi chính khối thuốc nổ mà cấp trên của họ chuẩn bị sẵn. Nhát búa cuối cùng ghim chữ "Đinh" vào vách đá chính là dấu ấn tuyệt mệnh của hiệp thợ Tây Đô lưu lại cho hậu thế.

Lâm Tuấn giật mình rút tay lại. Hơi lạnh buốt giá của vách đá kéo anh trở về với thực tại giữa màn mưa Thung Thần. Anh thở dốc một hơi, lồng ngực phập phồng trước dư âm bi tráng của quá khứ.

- Anh Tuấn, anh phát hiện ra điều gì rồi sao? - Tô Diệp Nhi bước sát lại, bàn tay mảnh khảnh của cô đỡ lấy khuỷu tay anh, ánh mắt lộ rõ vẻ lo lắng khi thấy sắc mặt anh tái đi dưới ánh đèn.

Lâm Tuấn hít sâu một hơi không khí ẩm ướt mang theo mùi đất đá ngai ngái. Anh giơ ngón tay trỏ chỉ vào ký tự cổ:

- Ký tự này là chữ 'Đinh'. Nét đục vát góc ba mươi độ, rãnh sâu hai đốt ngón tay, đáy rãnh có ba vết đục điểm tạo gờ nhám để giữ thăng bằng lực. Đây là dấu triện độc quyền của hiệp thợ đá Tây Đô từng phục vụ dưới trướng chúa Trịnh vào cuối thế kỷ mười tám.

Diệp Nhi chăm chú nhìn vào vết khắc, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại:

- Chữ 'Đinh' này... nét gãy ở đuôi móc và tỷ lệ chiều ngang so với chiều dọc...

- Em nhớ ra rồi đúng không? - Lâm Tuấn nhìn cô, giọng anh trầm xuống đầy nghiêm trọng. - Nó hoàn toàn trùng khớp với con dấu khắc chìm dưới chân đế của chiếc thạp đồng Đông Sơn từng bị toán buôn cổ vật cướp đi ở cảng Đình Vũ hồi đầu năm. Chiếc thạp đồng đó vốn là một món đồ tế lễ cổ xưa, nhưng dưới đáy thạp lại bị khắc đè lên một ký tự chữ 'Đinh' bằng đục thép thời trung đại. Khi đó chúng ta chỉ nghĩ đó là ký hiệu sở hữu của một nhà sưu tập cổ xưa nào đó. Bây giờ nhìn vết khắc trên vách đá này, có thể khẳng định kẻ sở hữu chiếc thạp đồng năm xưa và thế lực ra lệnh niêm phong Thung Thần chính là một.

Lão Hải bước tới, đưa kính lúp chuyên dụng vào sát bề mặt đá, ngón tay gầy guộc miết nhẹ lên những hạt khoáng vật li ti bám trong kẽ nứt:

- Cậu Tuấn nói trúng tim đen của lịch sử rồi. Nhìn những mảng màu xám chì bám chặt vào tinh thể canxit này xem. Đá vôi bị nung ở nhiệt độ trên tám trăm độ C sẽ chuyển sang màu trắng phấn, nhưng ở đây đá lại ngả màu xám chì kèm theo các tinh thể lưu huỳnh bám chết vào khe đá. Đây là dấu tích của thuốc súng đen cổ đại. Khoảng hơn hai trăm năm trước, sau khi hoàn thành việc giấu kín công trình bên trong, người ta đã dùng hàng trăm cân thuốc súng mỏ nhồi vào các lỗ khoan mồi để cho nổ sập toàn bộ vòm che phía trước. Hàng vạn tấn đất đá trên đỉnh núi ụp xuống, biến cửa hang nhân tạo thành một vách đá tự nhiên phẳng lì như chúng ta đang thấy.

Thắng và người chiến sĩ công binh còn lại nghe vậy liền lập tức tháo chiếc máy dò kim loại và xẻng công binh gấp khỏi ba lô:

- Nếu đã xác định được vị trí cửa hang bị vùi lấp, tôi sẽ gọi tổ công binh phía sau mang thuốc nổ dẻo C4 lên mở đường. Chỉ cần khoan ba lỗ mồi theo trục chữ 'Đinh' này, chúng tôi có thể thổi bay lớp đá sụt bên ngoài trong vòng mười lăm phút.

- Tuyệt đối không được dùng thuốc nổ! - Lâm Tuấn lập tức giơ tay ngăn lại, giọng anh đanh thép. - Các cậu nhìn cấu trúc vách đá bên trên đi. Toàn bộ vách núi này là đá vôi karst già nua, bên trong rỗng ruột như một tổ ong khổng lồ. Vụ nổ hai trăm năm trước đã làm rạn nứt cấu trúc cân bằng tự nhiên của khối núi, hiện giờ nó chỉ đang đứng vững nhờ kỹ thuật ghép đá khan chịu lực của thợ Tây Đô. Nếu các cậu kích nổ thuốc nổ dẻo ở đây, sóng xung kích sẽ phá vỡ các mộng đá cài then chốt. Cả vách núi hàng triệu tấn bên trên sẽ sụp xuống ngay lập tức, san phẳng toàn bộ Thung Thần và chôn sống tất cả chúng ta dưới đáy vực.

Người chiến sĩ công binh dừng tay, gương mặt lộ rõ vẻ bối rối:

- Nhưng nếu không nổ mìn phá đá thì làm sao chúng ta vượt qua được bức tường đá dày hàng mét này? Thiết bị phát tín hiệu của tên Vũ Đình Quảng đã gửi tọa độ đi rồi. Đội vũ trang của Trần Bá Hùng có thể đổ bộ bằng trực thăng hoặc cơ động đường rừng tới đây trước khi trời sáng. Chúng ta không còn nhiều thời gian để đục đá thủ công.

Lâm Tuấn không trả lời ngay. Anh lùi lại năm bước, đưa mắt quan sát toàn cảnh địa hình xung quanh chân vách núi.

Cột Bảo Quang màu tím vàng vẫn đang rực sáng dưới đáy mắt anh, nhưng có một chi tiết kỳ lạ mà ban nãy anh chưa để ý kỹ. Luồng hào quang từ lòng núi không hề đâm xuyên qua vị trí chữ "Đinh" trên vách đá theo phương nằm ngang. Thay vào đó, dải ánh sáng cổ kính ấy lại uốn cong một góc gần như thẳng đứng, cắm sâu xuống lòng đất ngay dưới chân vách núi rồi mới tỏa rộng ra bên dưới.

Tại sao một công trình kiên cố được bảo vệ bằng cửa đá ghép khan lại có mạch khí hướng thẳng xuống đáy đất?

Lâm Tuấn cúi thấp người, gạt phăng lớp lá mục và bùn nhão dưới chân vách đá. Lớp bùn ở khu vực này dày bất thường, xốp và có độ lún sâu hơn hẳn những nơi khác trong thung lũng.

Anh rút chiếc gậy thăm dò bằng hợp kim titan của công binh cắm mạnh xuống nền đất.

Phập!

Chiếc gậy dài một mét hai ngập lút cán một cách dễ dàng mà không hề chạm phải tầng đá đáy. Đáng chú ý hơn, khi anh rút thanh gậy lên, một luồng bọt khí màu đục từ dưới lỗ đất sủi tăm lên bề mặt bùn, kèm theo âm thanh ùng ục trầm đục kéo dài.

- Nước ngầm. - Diệp Nhi tinh ý nhận ra ngay. Cô ngồi thụp xuống bên cạnh anh, ngón tay nhúng vào vũng nước bùn vừa trào lên rồi đưa lên mũi ngửi. - Nước lạnh buốt, nhiệt độ chỉ khoảng mười bốn độ C.

Lão Hải nghe vậy liền bước vòng quanh khu vực bùn lún, chiếc gậy tre của lão liên tục gõ xuống các vị trí cách vách đá từ ba đến năm mét:

- Kỳ lạ... xung quanh đây toàn là đá gốc cứng cáp, chỉ có riêng một khoảng đất tròn bán kính chừng bốn mét này là bùn nhão không đáy. Thế đất này không phải sạt lở tự nhiên.

Lâm Tuấn nhìn theo hướng dòng bọt khí đang nổi lên, rồi lại nhìn lên chữ "Đinh" khắc trên vách đá.

Chữ "Đinh" trong phong thủy cổ đại thuộc hành Hỏa, đại diện cho phương Nam, cho sự kiên cố và đỉnh cao. Nhưng trong thuật giấu của của các triều đại phong kiến, chữ "Đinh" còn mang một tầng ý nghĩa ẩn dụ khác: "Đinh" là đỉnh đầu, là điểm định vị phương hướng chứ không phải nơi mở lối. Người xưa khắc chữ "Đinh" ở tầm mắt người đứng để đánh lạc hướng kẻ trộm mộ, khiến chúng lầm tưởng rằng cửa hang nằm ngay sau bức tường đá mà dồn sức đục phá, vô tình kích hoạt các bẫy sập chôn vùi chính mình.

Cửa vào thực sự không bao giờ nằm trên mặt đất.

- Cậu Thắng, mang xẻng và máy bơm bùn cầm tay lại đây! - Lâm Tuấn cất tiếng gọi, ánh mắt anh sáng rực lên trong màn đêm. - Dọn sạch lớp bùn mặt trên khoảng đất tròn này cho tôi.

Hai người lính công binh hành động. Chiếc máy bơm bùn chạy ắc quy mini được cắm sâu vào lớp đất nhão, hút từng luồng bùn đỏ xả ra phía con suối cạn cách đó mười mét. Dưới sự hỗ trợ của những chiếc xẻng công binh gạt phăng lớp mùn lá cổ thụ, một cấu trúc ngầm dần dần lộ diện dưới ánh đèn pin.

Đó không phải là nền đất tự nhiên.

Dưới lớp bùn dày gần nửa mét là một miệng giếng bằng đá vôi hình lục giác hoàn hảo, mép giếng được ghép bằng sáu phiến đá xanh nguyên khối đẽo gọt tỉ mỉ. Miệng giếng có đường kính rộng gần ba mét, đen ngòm và sâu hun hút.

Bên trong miệng giếng, mặt nước đen đặc như mực phẳng lặng đến rợn người, phản chiếu ánh sáng đỏ leo lét từ những ngọn đèn bọc kính.

Thắng cẩn thận thả một cuộn dây dù có buộc quả dọi bằng chì xuống lòng giếng.

Sợi dây dù trôi tuột qua các ngón tay anh ta. Mười mét... mười hai mét... mười bốn mét...

Đến đúng vạch mười lăm mét, sợi dây dù mới chùng lại. Quả dọi đã chạm đáy.

- Sâu đúng mười lăm mét. - Thắng ngẩng đầu lên, giọng run run vì kinh ngạc. - Một cái giếng sụt nhân tạo ngập nước ngay dưới chân vách núi.

Lâm Tuấn nhìn sâu vào lòng nước đen ngòm. Luồng Bảo Quang tím vàng mà anh nhìn thấy từ xa bấy lâu nay đang cuộn trào mãnh liệt từ đáy giếng sâu mười lăm mét này, tỏa ra những luồng sinh khí cổ xưa u uất.

Các bậc tiền nhân thời Lê Trung Hưng đã tạo ra một cái bẫy hoàn hảo để bảo vệ kho tàng quốc gia. Họ dùng thuốc súng nổ sập vách núi bên trên để bịt kín cửa khô, đồng thời đào một giếng sụt thẳng đứng xuyên qua tầng đá karst ngập nước, nối thẳng vào hệ thống địa đạo ngầm bên trong lòng núi Tam Điệp. Muốn bước chân vào kho tàng bí mật, không có con đường nào khác ngoài việc lặn qua vùng nước tử thần này.

Gió lạnh từ hẻm núi thổi thốc qua, cuốn theo tiếng gầm rú mơ hồ của động cơ phản lực từ phía xa xăm ngoài bìa rừng. Toán lính vũ trang của Trần Bá Hùng đang tiến đến gần hơn từng phút.

Lâm Tuấn đứng thẳng người dậy, bàn tay nắm chặt con dao gã chiến bên hông, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mặt nước đen lạnh buốt của miệng giếng ngầm.

- Chuẩn bị thiết bị lặn. - Lâm Tuấn quay sang Diệp Nhi và hai người lính công binh, giọng anh dứt khoát như một mệnh lệnh thép. - Cửa vào ở dưới đáy giếng này.

Chương khác

Xem thêm