Linh Quang Giám Bảo - Quyển 4: Huyết Ấn Truyền Quốc - Chương 17: Địa Bạ Quốc Gia Hoàng Triều
Ánh lửa từ những chậu đồng hoa sen hắt lên những hàng cột đá hoa cương vuông vức, biến cả đại điện ngầm thành một vòm trời rực sắc cam đỏ. Mùi sáp ong…
Nội dung chương
Ánh lửa từ những chậu đồng hoa sen hắt lên những hàng cột đá hoa cương vuông vức, biến cả đại điện ngầm thành một vòm trời rực sắc cam đỏ. Mùi sáp ong xen lẫn tinh dầu hạt lai cháy đượm tạo nên một tầng không khí ấm áp khác hẳn sự buốt giá ẩm ướt của hồ nước thạch tín bên ngoài.
Thắng thận trọng đi vòng qua mép thềm đá, hai mắt quan sát từng góc khuất của các trụ chống:
- Khu vực này hoàn toàn khô ráo. Độ ẩm không khí đo được chỉ tầm bốn mươi lăm phần trăm. Một con số không tưởng đối với hang động karst sâu dưới lòng đất.
- Đó là nhờ hệ thống thoát ẩm bằng than củi và vôi sống chôn ngầm dưới đáy thềm - Diệp Nhi mở máy đo bức xạ và cảm biến khí nén trên cổ tay, vừa đi vừa ghi chép số liệu - Bề mặt sàn lát đá xanh có rãnh thoát hơi vi mô. Người xưa đã tính toán độ dốc và hướng gió đối lưu để hút khí ẩm đi ra các túi ngầm phía dưới, giữ cho gian điện chính luôn duy trì trạng thái tiêu chuẩn để bảo quản giấy tờ.
Lâm Tuấn bước chầm chậm lên ba bậc thềm hoa cương dẫn tới đài cao trung tâm. Dưới đế giày dã chiến, đá hoa cương được mài phẳng phiu, các mạch ghép khít khao đến mức không lọt nổi một lưỡi dao cạo. Trên mặt đài, hàng trăm chiếc rương đồng thau màu xanh đen nằm sừng sững, xếp thành sáu hàng dọc ngay ngắn. Mỗi chiếc rương dài chừng một mét hai, cao sáu mươi phân, thành rương dày dặn đúc nổi hoa văn vân mây hình sóng nước.
Mặt ngoài các rương đồng đều quấn chặt hai vòng xích sắt to bản, tại vị trí ổ khóa có một đụn sáp ong rừng pha bột chu sa đỏ thẫm đè lên dải lụa điều niêm phong. Trải qua hơn hai thế kỷ nằm dưới đáy vực sâu của dãy Tam Điệp, lớp sáp niêm phong vẫn giữ nguyên độ dẻo quánh, bảo vệ tuyệt đối cho khóa ngầm bên trong.
- Bắt đầu lập biên bản hiện trường - Lâm Tuấn tháo găng tay dã chiến bằng sợi kevlar, thay vào đó là đôi găng tay cao su y tế mỏng không bột chuyên dụng của giới bảo tồn cổ vật - Diệp Nhi ghi âm và lưu hình ảnh quét laser 3D toàn bộ hiện trạng trước khi tác động cơ học. Thắng giữ vị trí quan sát cảnh giới, ghi nhận áp suất không khí liên tục. Nếu nồng độ khí lạ tăng đột biến, phải báo ngay.
- Rõ - Diệp Nhi lập tức mở thiết bị ghi hình quang phổ gắn trên mũ bảo hộ, bật máy quét ba chiều quét qua toàn bộ bề mặt chiếc rương đồng lớn nhất nằm ở vị trí trung tâm hàng đầu tiên.
Lâm Tuấn quỳ một chân xuống sàn đá trước chiếc rương chủ vị. Anh rút từ túi đồ nghề bảo tồn một chiếc dao mổ y khoa chuôi thép số 11, cẩn thận rọc mép dải sáp ong niêm phong. Mũi dao bén ngót lướt nhẹ dọc theo khe hở của tai rương, tách rời lớp sáp cổ mà không làm đứt đoạn các thớ vải lụa điều bên dưới.
Khi lớp sáp đỏ bong ra, một chiếc khóa đồng dạng then cài chìm hiện rõ. Lâm Tuấn dùng một chiếc kẹp đầu bọc nỉ luồn vào trong khe cá then, xoay nhẹ nửa vòng sang bên phải theo chiều kim đồng hồ. Một tiếng "tách" khô giòn vang lên giữa lòng đại điện tĩnh mịch.
Chốt khóa bung ra.
Lâm Tuấn đặt hai tay vào hai quai nâng bằng đồng đúc hình đầu lân, nhìn sang Diệp Nhi gật đầu xác nhận. Anh dùng lực cánh tay nhấc nắp rương nặng chừng ba mươi cân lên một cách từ tốn, tránh tạo ra luồng khí xoáy bất ngờ làm xáo trộn các vật phẩm bên trong.
Một mùi hương trầm bài, hồi hương lẫn vỏ quế cô đặc lâu năm ùa ra ngào ngạt.
Bên trong rương không có vàng bạc châu báu lấp lánh như cách người đời vẫn huyễn hoặc về những kho báu hoàng gia. Toàn bộ thể tích rương được lót bằng những phiến gỗ trầm hương mỏng ép sát vách đồng. Nằm ngay ngắn ở giữa là hàng chục chồng thư tịch cổ, mỗi tệp dày chừng ba đến năm tấc, được bọc cẩn thận bằng các lớp vải gấm thêu hoa cúc vàng và buộc bằng dây tơ tằm nhuộm cánh kiến.
Lâm Tuấn hít sâu một hơi để giữ cho nhịp tim ổn định. Anh đưa hai bàn tay mang găng cao su nhẹ nhàng nâng tệp thư tịch đầu tiên đặt lên chiếc giá đỡ bằng khung kim loại mà Diệp Nhi vừa mở ra bên cạnh.
Dải tơ tằm thắt nút hoa mai được tháo gỡ không chút vướng víu. Khi tấm gấm điều mở bung sang bốn phía, tập sách dày dặn lộ ra với bìa làm bằng giấy dó đại thượng hạng phủ sáp bóng loáng, mặt ngoài viết bốn chữ Hán thế chân phương bằng mực tàu đen nhánh:
"Hoàng Triều Địa Bạ".
Bên dưới dòng chữ lớn là dòng niên hiệu ghi rõ: Gia Long thập tam niên lục nguyệt.
- Địa bạ triều Gia Long... - Diệp Nhi ghé sát máy quét cận cảnh vào từng thớ giấy, giọng cô hạ thấp xuống vì rung động - Giấy dó này... sợi vỏ cây dướng mịn màng không tì vết, độ đanh và dai hoàn hảo.
- Đây là giấy dó thượng hạng được đặt làm riêng từ các làng nghề xứ Đoài phục vụ Nội các triều đình - Lâm Tuấn khẽ chạm đầu ngón tay mang găng vào góc trang bìa - Nhìn kỹ bề mặt giấy có ánh xà cừ li ti lấp lánh. Người xưa đã dùng bột vỏ điệp nghiền mịn hòa với nước hồ nếp để ngâm và tráng lên mặt giấy dó. Nước điệp không chỉ tăng độ dẻo dai, chống thấm nước tuyệt đối mà chất vôi tự nhiên trong vỏ sò điệp còn ngăn chặn hoàn toàn các loại nấm mốc và mối mọt gặm nhấm suốt hai trăm năm qua.
Bằng động tác điêu luyện của một chuyên gia giám định cổ vật hàng đầu, Lâm Tuấn dùng chiếc thẻ ngà mỏng nhẹ nhàng lật mở trang giấy đầu tiên.
Mặt giấy mở ra phẳng phiu, không hề có một vệt ố vàng hay dấu hiệu giòn mục nào của thời gian. Từng dòng chữ viết chân phương bằng mực tàu thượng hạng ánh lên sắc đen tuyền như vừa mới ráo mực ngày hôm qua.
Đó là bản mục lục tổng kê địa bạ của toàn bộ các trấn, đạo, phủ, huyện, tổng, thôn, xã từ Bắc chí Nam.
Lâm Tuấn lật sang các trang trong. Từng trang giấy mở ra là một bức tranh đồ sộ về tổ chức cương vực của đất nước. Thể thức địa bạ triều Nguyễn hiển hiện vô cùng quy củ và nghiêm cẩn. Mỗi thôn xã đều được ghi chép theo cấu trúc bất di bất dịch: Bốn hướng giáp giới rõ ràng đông, tây, nam, bắc; diện tích thực tế đo đạc bằng thước đạc điền; phân loại rành mạch ruộng công, đất tư, thổ trạch, ao hồ, rừng núi cho tới bãi bồi ven sông.
Ở trang ghi chép về phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa, từng gò cát, bãi bồi ven biển đều được kê cứu chi tiết đến từng trượng, từng thước.
- Nhìn vào đây - Lâm Tuấn chỉ vào một đoạn văn bản chữ Nôm kết hợp chữ Hán ở góc dưới trang giấy - "Đông giáp đại hải, bờ cát trải dài vô tận, ngoài khơi có các đảo cát vàng, dân sai đội Hoàng Sa hàng năm dong thuyền ra lượm lặt cổ vật, hải vật, đo đạc hải trình...". Mỗi một dặm bờ cõi, từng hòn đảo xa xôi ngoài đại dương đều được ghi chép bằng mực đen giấy trắng, lập thành văn bản hành chính lưu trữ cấp quốc gia từ hơn hai trăm năm trước.
Bàn tay Lâm Tuấn khẽ run rẩy. Anh đã từng xử lý hàng vạn món cổ vật trong suốt sự nghiệp giám định của mình, từ những bình gốm men lam tiền tỷ cho tới những khối ngọc quý thời phong kiến. Nhưng đối diện với những trang địa bạ này, cảm giác trong anh hoàn toàn khác biệt. Đây không phải là món hàng để định giá bằng tiền bạc, cũng không phải là thứ có thể đưa lên sàn đấu giá để mặc cả từng đồng.
Đây là máu xương, là mồ hôi, là chủ quyền bờ cõi ngàn đời của tiền nhân truyền lại. Từng trang giấy mỏng manh kia mang sức nặng ngàn cân của lịch sử, là bằng chứng đanh thép khẳng định quyền làm chủ vĩnh viễn đối với từng tấc đất, từng ngọn sóng biển đông.
Diệp Nhi chăm chú nhìn từng nét bút trên văn bản, khóe mắt cô hoe đỏ:
- Anh Tuấn... Em nhớ tới hồ sơ vụ đấu giá ngầm tại Paris và Geneva năm ngoái. Nhóm người của Gilbert Cole và các tổ chức buôn lậu cổ vật quốc tế đã chi hàng triệu đô la để thuê các học giả ngụy tạo tài liệu, rêu rao trên các diễn đàn văn hóa rằng triều đình phong kiến Việt Nam thời xưa không hề có hệ thống địa bạ hoàn chỉnh đối với các vùng hải đảo xa xôi. Bọn chúng vin vào cớ các tư liệu lưu trữ tại Huế bị thất lạc sau các cuộc chiến tranh để tìm cách xóa bỏ tính liên tục lịch sử của chủ quyền quốc gia, hòng hạ thấp giá trị văn hóa và phục vụ mưu đồ chính trị bẩn thỉu của những kẻ giấu mặt.
- Lời nói dối dù có bọc bằng vàng ròng cũng không thể trở thành sự thật - Ánh mắt Lâm Tuấn đanh lại, giọng nói vang lên dứt khoát giữa đại điện - Bọn chúng luôn tuyên bố rằng châu bản và địa bạ hoàng triều đã bị thiêu rụi hoặc phân tán vô phương cứu vãn trong biến loạn năm Ất Dậu 1885. Nhưng sự thật nằm trọn vẹn tại đây. Hàng trăm chiếc rương đồng này chứa trọn vẹn bộ địa bạ gốc của toàn bộ đất nước, được các bậc trung thần cấm vệ bí mật đưa về lòng núi Tam Điệp cất giấu để phòng khi quốc biến. Toàn bộ lập luận xuyên tạc lịch sử của các sàn đấu giá ngoại quốc và lũ con buôn chợ đen phương Tây sẽ tan tành thành tro bụi trước những trang giấy dó ngâm nước điệp này.
Thắng đứng bên cạnh, khẩu súng báng gập giữ ngang ngực, ánh mắt anh nhìn vào những chồng thư tịch dày đặc với vẻ tôn kính tuyệt đối:
- Chúng ta đang giữ trong tay cả một kho tàng vô giá của đất nước. Nếu những tài liệu này được đưa ra ánh sáng, các cơ quan văn hóa và khảo cổ quốc gia sẽ có được nguồn tư liệu nguyên bản quý giá nhất từ trước tới nay.
- Chúng ta phải kiểm tra từng rương một để lập danh mục phân loại ban đầu - Lâm Tuấn nói, cẩn thận gấp lại tấm gấm điều bao bọc tệp địa bạ phủ Triệu Phong - Phải xác định rõ hệ thống con dấu xác thực.
Anh dùng ngón tay chỉ vào vị trí giáp lai của các trang giấy và phần cuối văn bản. Nơi đó, sắc đỏ chu sa tươi rói vẫn nổi bật trên nền giấy dó trắng ngà.
Đó là hình con dấu triện vuông vức, nét khắc uốn lượn như rồng bay phượng múa, bốn góc sắc nét không hề bị nhòe mực. Dòng chữ triện bốn chữ hiển hiện rõ ràng: "Hoàng Đế Chi Bảo".
- Dấu triện của Kim Ấn - Diệp Nhi cúi xuống sát mặt trang giấy, nheo mắt quan sát cấu trúc mực in - Màu chu sa này rất đặc biệt. Chu sa tự nhiên được tán mịn bằng chày đá mã não, hòa với dầu tràm và nhựa thông thơm. Lớp mực in dày dặn, có độ gồ nhẹ trên mặt giấy dó, khớp với kỹ thuật đóng triện của bảo ấn hoàng cung.
Lâm Tuấn lần giở tiếp các tệp địa bạ khác trong cùng chiếc rương. Từ địa bạ các xã thôn thuộc trấn Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc cho tới các tổng miền biên ải Lạng Sơn, Tuyên Quang, tất cả đều có dấu triện giáp lai của ngự ấn này. Mỗi con dấu đóng xuống đều là sự xác quyết tối cao của quyền lực nhà nước phong kiến đối với quyền quản lý đất đai và cương vực.
Nhưng khi Lâm Tuấn lật đến ngăn đáy của chiếc rương đồng lớn nhất, chân mày anh đột ngột nhíu chặt lại.
Dưới đáy rương, bên cạnh các ngăn chứa thư tịch bọc gấm, có một chiếc hộp hình chữ nhật bằng gỗ hoàng đàn thếp vàng lộng lẫy. Nắp hộp chạm trổ đồ án lưỡng long chầu nguyệt tinh xảo. Kích thước của chiếc hộp tương xứng với một bệ ngọc hoặc một chiếc kim ấn nặng hàng chục cân.
Khóa chốt của chiếc hộp gỗ hoàng đàn đã mở sẵn từ bao giờ.
Lâm Tuấn đưa tay nhấc nắp hộp lên.
Bên trong hộp được lót bằng một lớp đệm nhung đỏ thêu chỉ vàng hình hoa văn mây lửa. Mặt đệm nhung lún sâu xuống một khoảng trống hình vuông có kích thước cạnh khoảng mười ba xăng-ti-mét, với một hõm tròn ở giữa vừa vặn với hình dáng quai rồng uốn khúc.
Khoảng trống ấy trống rỗng.
Chiếc kim ấn bằng vàng ròng, biểu tượng tối cao đã đóng lên hàng ngàn con dấu chu sa đỏ thắm trên những trang địa bạ kia, không hề có mặt trong chiếc rương đồng trung tâm.
- Không có ấn? - Thắng bước vội tới gần, nhìn chằm chằm vào lòng chiếc hộp hoàng đàn trống trơn - Làm sao có thể như vậy được? Nếu đây là chiếc rương quan trọng nhất lưu trữ toàn bộ văn bản gốc cùng hộp đựng ngự bảo, tại sao chiếc kim ấn lại biến mất?
Diệp Nhi đưa máy quét quang phổ quét sâu vào từng thớ vải nhung đỏ dưới đáy hộp. Màn hình huỳnh quang lập tức hiển thị các chỉ số phân tích:
- Vết lún trên đệm nhung có niên đại chịu lực đè nén liên tục hơn một trăm năm. Điều đó có nghĩa là chiếc ấn đã từng nằm yên vị bên trong chiếc hộp này suốt một thời gian rất dài. Nhưng vết tách sợi nhung ở bốn góc cho thấy nó đã bị ai đó nhấc ra khỏi hộp.
Lâm Tuấn cúi thấp người, ánh mắt sắc sảo lướt qua bề mặt lớp nhung đỏ. Anh dùng chiếc kính lúp chuyên dụng có gắn đèn led cực tím soi sát vào mép hõm sâu.
Dưới ánh sáng tím, một vệt chất lỏng khô cạn màu nâu sẫm hiện lên rõ nét ngay trên bề mặt sợi chỉ vàng. Vệt chất lỏng đó có hình dạng của một dấu vân tay người, kéo dài từ mép đệm nhung sang bên thành gỗ hoàng đàn.
Đó là một dấu vết máu đã khô quắt từ hàng trăm năm trước.
- Chiếc ấn không phải bị bỏ quên ở kinh thành trước chuyến thiên di - Lâm Tuấn cất giọng trầm thấp, từng từ phát ra đều nặng trĩu - Nó đã được đưa tới tận mật khố này, đặt an toàn trong chiếc rương đồng chủ vị. Nhưng sau đó, đã có người dùng bàn tay dính máu mở chiếc hộp này ra và mang chiếc kim ấn đi nơi khác.
- Ai có thể vào được đây để lấy chiếc ấn? - Diệp Nhi bàng hoàng nhìn xung quanh đại điện - Cánh cổng ngọc bích bên ngoài vẫn đóng kín suốt hai thế kỷ, toàn bộ bẫy ngầm tự hoại và hồ nước thạch tín đều nguyên vẹn. Trừ phi... người mang chiếc ấn đi chính là một trong những thành viên của lực lượng cấm vệ chốt giữ nơi này!
Lâm Tuấn đứng thẳng người dậy, ánh mắt anh rời khỏi chiếc hộp gỗ hoàng đàn trống rỗng, hướng thẳng về phía sâu nhất của đại điện, nơi bóng tối mờ ảo vẫn đang bao trùm lấy một lối đi hình bán nguyệt dẫn sâu vào tâm núi.
Chiếc chìa khóa ống đồng chạm khắc hình chim ưng trong túi áo ngực của anh như đang tỏa ra một luồng nhiệt âm ỉ. Toàn bộ địa bạ quốc gia với hàng triệu số liệu cương giới đã được bảo tồn trọn vẹn, nhưng chiếc kim ấn nắm giữ quyền lực tối thượng để hợp thức hóa mọi văn thư lại đang nằm ở một nơi nào đó trong mê cung đá vôi này.
Bí mật thực sự của những người lính cấm vệ cuối cùng vẫn chưa kết thúc tại chiếc rương đồng này. Một câu hỏi lớn hơn, u uất và bi tráng hơn, đang lẩn khuất phía sau bức màn bóng tối của lòng núi Tam Điệp.