Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 16: Bàn Tay Khô Khốc Thò Từ Mây

Luồng hàn khí từ hai hốc mắt đỏ rực trên tầng không giáng thẳng xuống đỉnh đầu Khoa. Cơn ớn lạnh không dừng lại ngoài da thịt mà ngấm sâu vào tủy sống,…

Nội dung chương

Luồng hàn khí từ hai hốc mắt đỏ rực trên tầng không giáng thẳng xuống đỉnh đầu Khoa.

Cơn ớn lạnh không dừng lại ngoài da thịt mà ngấm sâu vào tủy sống, biến từng khớp xương của cậu thành những mẩu băng cứng ngắc. Cổ tay phải dính chặt vào vòng cước đen sì, nơi chất dịch tanh tưởi đã đóng keo như sắt nguội, hàn chặt da thịt cậu vào sợi dây oan nghiệt. Mỗi nhịp mạch đập ở cổ tay đều kéo theo một đợt đau nhói buốt óc, nhưng nỗi đau thể xác lúc này nhanh chóng bị đè bẹp bởi một thứ sức ép vô hình đang nghiền nát tâm can cậu bé mười bốn tuổi.

Hai tai Khoa bắt đầu lùng bùng.

Thoạt đầu, đó chỉ là những thanh âm rào rào tựa tiếng mưa đá dội lên mái ngói cổ. Rồi rất nhanh, âm thanh chuyển thành những lời thì thầm rậm rịch, đặc quánh và trơn trượt. Thứ âm thanh quái đản ấy không truyền qua không khí lọt vào vành tai, mà rót thẳng vào chính giữa màng nhĩ, cuộn xoáy bên trong hộp sọ cậu. Đó là giọng nói bằng thứ thổ ngữ kỳ dị, lơ lớ âm sắc phương Bắc xa xưa, vừa nặng nề trắc trở lại vừa kéo dài thê thiết như tiếng rên của người bị chôn sống dưới hầm gạch.

Những câu chữ lặp đi lặp lại một bài chú trấn yểm:

- Hồn quy sơn cốt... Khí tuyệt Ba Vì... Huyết tế dẫn lộ...

Từng âm tiết giáng xuống làm đầu óc Khoa váng vất dữ dội. Trước mắt cậu, cảnh vật bắt đầu đảo lộn. Tảng đá tai mèo dưới lưng biến thành một phiến bia mộ lạnh ngắt. Triền cỏ tranh rạp mình trong bùn lầy bỗng hóa thành hàng vạn cánh tay khẳng khiu ngoi lên từ lòng đất. Bầu trời đêm của ngọn Ba Vì chao đảo, xoay tròn quanh trục cánh diều chim ưng đen tuyền.

Khoa thở dốc, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng cách cách khô khốc. Cậu muốn nhắm mắt lại để trốn chạy hai đốm than đỏ lòm đang trừng trừng dòm xuống từ lưng chừng mây, nhưng đôi mi mắt nặng trĩu bị một lực kéo vô hình giữ chặt. Mắt cậu cứ mở trừng trừng, tròng trắng vằn lên những tia máu đỏ sẫm. Sinh lực trong cơ thể cậu bị rút cạn dần theo từng nhịp mạch máu đập nơi cổ tay, chảy ngược lên sợi cước, hòa vào bóng đêm mịt mùng trên không trung.

***

Cùng lúc đó, cách bãi hoang chừng ba dặm đường rừng, xóm Trong của làng Nại đã chìm vào màn đêm tĩnh mịch.

Gian nhà gỗ lim ba gian hai chái của ông Vạn đứng lặng lẽ dưới bóng râm của rặng nhãn cổ thụ. Trên chiếc chõng tre đặt giữa gian nhà chính, ngọn đèn dầu Hoa Kỳ tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù soi rọi mâm cơm chiều đã nguội ngắt từ lâu.

Dưới chiếc lồng bàn đan bằng cật tre mốc thếch, bát canh rau muống dầm sấu đã đóng một lớp màng váng mỏng tanh. Đĩa cà pháo giòn cùng nửa khúc cá trôi kho tương nằm trơ trọi bên cạnh đôi bát chiết yêu sứt miệng và hai đôi đũa tre so le. Bữa cơm chiều đạm bạc của hai ông cháu vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề có một hạt cơm nào rơi vãi.

Tiếng bước chân gấp gáp nện trên nền ngõ lát gạch nghiêng vang lên, phá vỡ sự im ắng của xóm nghèo.

Ông Vạn đẩy cánh cổng gỗ khép hờ bước vào sân. Chiếc áo cánh nâu sồng của ông ướt đẫm mồ hôi sau lưng, ống quần vải thô xắn cao đến tận đầu gối dính đầy những vệt bùn non màu xám xịt. Gương mặt già nua với những nếp nhăn sâu hoắm hằn rõ nét bồn chồn lo âu.

Ông vừa chạy đôn chạy đáo khắp làng suốt hơn một giờ đồng hồ. Từ bến nước đầu xóm Đình, nơi lũ trẻ thường tụ tập chơi đánh đáo, cho đến tận lò gạch cũ ngoài rìa bãi tha ma, chỗ nào ông cũng cất tiếng gọi tên đứa cháu nội duy nhất. Những người hàng xóm chỉ lắc đầu ái ngại. Thằng Thao, thằng Tễu cùng bọn trẻ chăn trâu đều bảo từ lúc xế chiều đã thấy Khoa lấm lét ôm một bọc vải dài đi về phía chân núi, mặt mày hớn hở lạ thường.

- Khoa ơi! Mày về chưa con?

Ông Vạn bước qua bậu cửa gỗ lim, cất tiếng gọi trầm đục vào bóng tối tĩnh mịch của ngôi nhà. Đáp lại lời ông chỉ có tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên xà ngang và tiếng gió lùa qua khe liếp xào xạc.

Ngọn đèn dầu trên bàn bỗng chao nghiêng một nhịp kỳ lạ. Bấc đèn tự nhiên lóe lên một đốm lửa xanh le lói rồi lụi dần xuống, mùi dầu hỏa khét lẹt bốc lên ngột ngạt. Trên bàn thờ tổ nghề diều treo ở gian giữa, ba nén nhang thắp từ ban trưa đã tàn tự lúc nào, nhưng tàn nhang không rụng xuống bát gạo mà uốn cong queo thành hình dáng một cái móng vuốt chim sắc nhọn cắm ngược vào chân nhang.

Một luồng khí lạnh buốt xộc thẳng vào sống lưng khiến bàn tay đang cầm chiếc đèn pin con thỏ của ông Vạn khựng lại.

Linh tính của một người thợ già cả đời gắn bó với mây trời và tre trúc gióng lên từng hồi chuông cảnh báo dồn dập. Bỏ mặc mâm cơm lạnh tanh trên chõng, ông Vạn quay phắt người, sải những bước chân dài và nặng nề tiến thẳng về phía góc tối tăm nhất của gian chái phụ.

Nơi đó là buồng chứa vật liệu làm diều, đồng thời cũng là nơi đặt chiếc rương gỗ lim cổ mà cả đời ông nâng niu cất giấu.

Cánh cửa buồng ghép bằng những dát tre già mở toang hoác. Gió núi từ ô cửa sổ nhỏ thổi thốc vào trong phòng, cuốn theo mùi ẩm mốc của giấy dó ủ lâu năm và mùi hăng hắc của nhựa trám trám rừng.

Ông Vạn giơ ngọn đèn pin rọi thẳng vào góc tường. Ánh sáng vàng đục quét qua đống nan tre vót dở, qua những ống sáo gỗ tiện tròn bóng loáng, rồi dừng sững lại tại vị trí đặt chiếc rương gỗ gụ cổ đời Lê.

Toàn thân ông Vạn run bắn lên. Chiếc đèn pin trên tay chao đảo kịch liệt, suýt nữa tuột khỏi những ngón tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn.

Chiếc rương cổ đã bị cạy mở.

Bình thường, nắp rương luôn được khóa chặt bằng một chiếc ổ khóa đồng nguyên khối hình con nghê ngậm ngọc, chìa khóa ông Vạn luôn thắt chặt bên dải rút quần không bao giờ rời thân. Nhưng giờ đây, chiếc then đồng dày dặn đã bị bẻ gãy gập sang một bên. Ổ khóa đồng quý giá nằm lăn lóc dưới nền đất nện, thân khóa vỡ vụn thành ba mảnh sắc lẹm, xung quanh vương vãi những mạt đồng xám xịt như thể vừa phải chịu đựng một cú đập bằng búa tạ.

Nắp rương gỗ gụ bật ngửa ra sau, tựa vào vách tường đất.

Bên trong rương trống không. Lớp vải điều đỏ thắm dùng để bọc vật thiêng bị xé rách tả tơi, vương vãi những sợi chỉ tơ lấp lánh trên đống tro tàn đen ngòm bốc mùi hôi nồng. Bộ khung diều tre đen tuyền dán giấy dó vẽ phù chú Cao Biền đã biến mất. Cả cuộn dây cước gai rừng ngâm thuốc bí truyền cùng bộ sáo còi ba tầng chạm khắc hoa văn mắt quỷ cũng không còn tăm hơi.

- Trời cao đất dày ơi!

Tiếng kêu xé ruột xé gan bật ra khỏi lồng ngực gầy guộc của ông Vạn. Ông ngã khụy hai đầu gối xuống nền đất nện ẩm ướt, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép chiếc rương rỗng tuếch. Móng tay ông cào mạnh lên thớ gỗ lim phát ra tiếng ken két khô khốc.

Cái rương này là nơi giam giữ tội lỗi của dòng họ ông qua bốn đời thợ làm diều làng Nại.

Ông Vạn nhớ như in lời trăng trối của người cha quá cố vào đêm ba mươi Tết năm ấy, khi ông cụ trút hơi thở cuối cùng bên giường bệnh. Cụ đã nắm chặt lấy cổ tay ông, đôi mắt đục ngầu trừng lên nhìn thẳng vào chiếc rương mà trăn trối rằng: cánh diều chim ưng cánh nhọn kia là thứ nghiệt duyên mượn hồn ma bóng quế năm xưa của quân Tàu. Ai thả nó lên trời sau giờ Dậu, kẻ đó tự tay mở cửa địa ngục trên tầng không, đem thân xác và máu thịt dâng cho con quỷ ngã mây nghìn năm trước để nó tìm đường quay lại mặt đất.

Thằng Khoa đã lấy con diều cấm. Nó đã đem con diều đi đúng vào ngày hội làng, vào lúc hoàng hôn tắt nắng.

- Thằng dại dột! Sao mày lại rước mối họa này vào thân!

Ông Vạn gầm lên trong tuyệt vọng. Nhưng sự hoảng loạn chỉ chiếm lấy tâm trí người nghệ nhân già trong chốc lát. Cơn sợ hãi lập tức nhường chỗ cho sự tỉnh táo sắc lạnh của một người đã từng đối mặt với sinh tử nơi rừng thiêng nước độc. Ông bật dậy như một chiếc lò xo, động tác nhanh nhẹn dứt khoát khác hẳn vẻ già nua thường ngày.

Ông lao đến góc buồng, giật phăng tấm vải bạt phủ trên chiếc giá gỗ cạnh án thư.

Trên giá, con dao chém mía gia truyền dài hơn hai thước sáng loáng ánh thép xanh nằm im lìm trong vỏ gỗ mun. Đây là con dao rèn bằng thép dập trăm lớp, từng chém đứt gốc tre già nghìn năm, ngâm qua nước suối thiêng trên đỉnh Ba Vì. Ông Vạn rút mạnh lưỡi dao khỏi vỏ, tiếng thép rít lên sắc lẹm xé toạc bầu không khí ngột ngạt.

Tiếp đó, ông với tay lấy cuộn dây gai rừng xe ba sợi quấn ngang hông, nhét vội vào túi áo gói diêm Thống Nhất cùng bùi nhùi bổi làm bằng vỏ cây dó tẩm dầu trẩu.

Chạy ào ra chuồng gà sau chái nhà, ông Vạn thò tay túm chặt lấy cổ một con gà trống thiến lông đỏ tía đang đậu trên giàn tre. Con gà chỉ kịp giãy giụa phát ra tiếng quang quác đứt quãng thì lưỡi dao sắc lạnh của ông đã rạch một đường dứt khoát ngang cuống họng nó.

Dòng máu gà tươi đỏ tươi, nóng hổi phun trào ra, chảy xối xả xuống dọc theo sống dao thép. Máu tươi thấm đẫm từ mũi dao đến tận chuôi gỗ mun, bốc lên làn khói mờ mang theo mùi tanh nồng xua bớt phần nào tử khí trong gian bếp. Ông Vạn lẩm bẩm một câu chú tẩy uế bằng tiếng Nôm cổ rồi tra con dao còn đẫm máu vào lại vỏ bao, cắp chặt bên sườn.

Quay nhìn về phía đỉnh Ba Vì đang bị che phủ hoàn toàn bởi những đám mây đen cuồn cuộn, ông Vạn cắn chặt môi đến bật máu.

Nơi đó, hướng về phía bãi đất hoang đầu vực đá, một luồng âm khí ngút trời đang bốc lên ngùn ngụt.

***

Tại bãi hoang chân núi Ba Vì, mặt đất dưới chân Khoa bắt đầu rung chuyển từng đợt rùng mình.

Tiếng thì thầm phù chú trong đầu Khoa đột ngột đứt đoạn, thay thế bằng một âm thanh rền rĩ chói tai như tiếng cào cấu của kim loại lên mặt đá tảng. Cậu bé nằm sóng soài trên mặt bùn lầy, hô hấp yếu ớt, ánh mắt dại đi vì kiệt sức. Cổ tay bị trói chặt đã mất hoàn toàn cảm giác, tê buốt đến tận xương tủy.

Trên đỉnh đầu cậu, cánh diều chim ưng khổng lồ vẫn đứng sững giữa tầng không, không hề lay chuyển trước những luồng gió lốc dữ dội của ngọn Ba Vì. Giữa nền mây đen kịt, những dòng phù chú ngoằn ngoèo trên mặt giấy dó ngả vàng bắt đầu rực sáng lên một thứ ánh sáng màu đỏ bầm tà ác.

Và rồi, sự biến đổi khủng khiếp nhất đã xảy ra.

Cái bóng gầy guộc trơ xương bám trên lưng con diều bắt đầu chuyển động. Khớp xương cổ của nó phát ra những tiếng răng rắc khô khốc khi nó cúi thấp đầu hơn nữa, dí sát hai hốc mắt sâu hoắm rực lửa than vào sợi dây cước gai rừng.

Từ bờ vai nhọn hoắt như hai mũi giáo, cánh tay khẳng khiu đen đúa của nó từ từ vươn ra. Năm ngón tay dài ngoằng, nham nhở những vết sẹo nứt nẻ và móng vuốt nhọn hoắt cắm phập vào thân sợi cước.

Âm thanh xèo xèo tanh tưởi lại vang lên dữ dội.

Chất dịch nâu sẫm trên sợi cước vừa chạm vào ngón tay trơ xương của bóng ma liền sôi sùng sục, bốc lên những cuộn khói xám xịt mang theo mùi tử khí nồng nặc. Nhưng cái bóng tà ác không hề buông tay. Ngược lại, bàn tay khô khốc của nó quặp chặt lấy đường dây cước, siết mạnh đến mức những thớ gai rừng kêu lên kèn kẹt.

Khoa trợn trừng hai mắt, lồng ngực thắt lại không thể hít thở.

Cái bóng trên lưng diều không hề buông mình rơi tự do. Bằng một tư thế vặn vẹo phi nhân loại, nó co gập hai cẳng chân khẳng khiu lại, bám chặt vào sống lưng cánh diều tre đen, rồi dùng hai cánh tay dài ngoằng lần lượt nắm lấy sợi cước nhầy nhụa.

Nó bắt đầu trượt ngược xuống.

Từng tấc một. Rất chậm rãi nhưng vô cùng chắc chắn.

Mỗi lần bàn tay trơ xương của nó trượt xuống một đoạn dây cước, toàn bộ sợi dây lại rung lên bần bật như một dây đàn sắt bị gảy mạnh. Nhịp rung mang theo trọng lượng của một oán linh ngàn năm cùng sức nặng của cái chết đè nặng lên cổ tay Khoa. Khối keo đen siết chặt vào da thịt cậu bé lại nứt toác ra, máu tươi từ vết rách tiếp tục trào ra, nuôi dưỡng cho sợi cước thêm phần ma quái.

Khoa nhìn thấy rõ mồn một từng chi tiết đang hạ dần xuống từ tầng mây u tối.

Mái tóc dài xơ xác của nó bay dạt sang hai bên trong gió rít, để lộ ra khuôn mặt chỉ là một lớp da đen đúa bọc sát vào xương sọ méo mó. Cái miệng rách toác không có môi để lộ hai hàng răng lởm chởm, đen xì như những mảnh than đá vụn. Từ trong cuống họng rỗng toác ấy phát ra những tiếng thở khò khè nghẹn ứ, như thể nó đang cố nuốt lấy từng ngụm khí nóng của trần gian mà nó đã thèm khát suốt hàng trăm năm nằm vùi dưới đáy huyệt lạnh lẽo.

Khoảng cách giữa cái bóng và đỉnh mây đang kéo dài ra, nhưng khoảng cách giữa nó và mặt đất lại đang ngắn dần lại từng thước một.

Sợi cước căng cứng rỉ máu lúc này biến thành một chiếc cầu thang vô hình nối liền cõi chết trên không trung với cõi sống nơi trần thế. Kẻ ngã từ trên mây năm xưa đang lần theo từng sợi gai rừng dầm máu để bò trở lại mặt đất. Mỗi nhịp di chuyển của nó truyền xuống đất một làn sóng lạnh buốt làm cỏ cây xung quanh khô héo rạp mình, đất bùn đóng một lớp sương muối trắng nhờ nhờ tanh tưởi.

Khoa nghẹn ngào, hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt lấm lem bùn đất và máu. Cậu muốn co chân lùi lại, muốn tìm một chỗ ẩn nấp sau tảng đá tai mèo, nhưng sợi dây cước căng như dây cung đã khóa chặt cậu tại chỗ. Cậu không khác gì một con mồi béo bở bị trói chặt vào cọc tế thần, trơ mắt nhìn con ác quỷ đang từ trên vòm trời hạ dần xuống đỉnh đầu mình.

Một đợt gió độc từ trên cao thốc thẳng xuống bãi hoang, mang theo mùi hôi thối nồng nặc của xác chết ngâm nước lâu ngày.

Bàn tay trơ xương của cái bóng ma quái đã tuột xuống được một phần ba chiều dài sợi cước. Hai hốc mắt đỏ rực của nó khóa chặt vào đỉnh đầu Khoa, miệng nó hé mở rộng hơn, phát ra một chuỗi âm thanh ken két đắc thắng như tiếng hai hòn đá mài vào nhau giữa đêm trường u tối.

Chương khác

Xem thêm