Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 20: Chặt Đứt Sợi Dây Cước
Sợi dây cước gai rừng căng bần bật rít lên từng tràng the thé giữa khoảng không tối tăm. Lực kéo từ trên tầng mây đen dội xuống mỗi lúc một nặng nề, dìm…
Nội dung chương
Sợi dây cước gai rừng căng bần bật rít lên từng tràng the thé giữa khoảng không tối tăm. Lực kéo từ trên tầng mây đen dội xuống mỗi lúc một nặng nề, dìm toàn bộ cơ thể Nguyễn Khoa xuống bề mặt đất đá nham nhở của sườn núi Ba Vì.
Góc kéo của sợi dây đã hạ xuống cực thấp. Nó không còn nâng bổng bãi đất hoang lên trời cao, mà ghì chéo một đường tàn nhẫn, lôi tuột cậu bé mười bốn tuổi trượt dài về phía miệng vực sâu hun hút. Mặt đất lổn nhổn sỏi nhọn và đá tai mèo cào rách toạc ống quần vải phên thô, nghiến sâu vào hai đầu gối cậu. Da thịt non nớt cọ xát với nền sỏi sắc lẹm toé máu, để lại hai vệt chất lỏng sẫm màu kéo dài ngoằng ngoặc trên mặt đất ẩm ướt.
Khoa cắn chặt hai hàm răng, cố gập các khớp ngón chân lại để đạp ngược chiều kéo, nhưng lớp bùn đất nhão nhoét trơn tuột dưới sức kéo ngàn cân. Lực lôi của cánh diều đen trên cao vượt xa sức vóc của một đứa trẻ. Nó lạnh lùng, dứt khoát và mang theo sức nặng của một khối đá tảng lăn từ đỉnh núi thiêng xuống chân dốc.
"Ông ơi! Cứu cháu với! Ông nội ơi!"
Cổ họng Khoa bỏng rát, bật ra từng tiếng thét nghẹn ứ giữa những cơn giật giụa. Tiếng kêu của cậu vừa cất lên đã bị luồng gió chướng gầm rít xé vụn. Đêm Ba Vì năm một chín chín lăm không có lấy một bóng người qua lại nơi dốc hoang này. Cả làng Nại đã chìm sâu sau những bờ tre, sau những bức tường gạch đá ong dày cộm và những cánh cửa gỗ lim then cài chu đáo. Người làng đều đã tắt đèn, khép chặt chăn màn để trốn chạy điềm dữ của giờ Dậu. Bãi thả diều lúc chập tối giờ biến thành một bãi tha ma vắng lặng, chỉ rộ lên tiếng gió quỷ gào thét bên vách đá và tiếng lách cách tanh tưởi của cuộn dây cước đang tự nhả từng vòng máu.
Sợi cước quấn chặt quanh cổ tay trái của Khoa đã ăn sâu qua lớp da mỏng, bóp nghẹt các mạch máu. Toàn bộ bàn tay trái của cậu tím tái, sưng phù lên như một củ khoai nước ngâm bùn, các đầu ngón tay mất dần cảm giác đau buốt và bắt đầu tê dại. Chất lỏng màu nâu sẫm trên sợi dây gai vẫn sôi sùng sục, bốc mùi tanh tưởi xộc thẳng vào mũi, làm Khoa nôn thốc nôn tháo ra một búng nước chua vàng khè.
Cách chỗ cậu chừng ba trượng, miệng vực thẳm Ba Vì há to như một họng thú dữ khổng lồ.
Đó là con vực sâu không đáy ngăn cách giữa bãi đất hoang và rặng thông cổ thụ của ngọn núi thiêng. Dưới đáy vực quanh năm sương mù mịt mùng bao phủ, cây cỏ rậm rạp mọc chen chúc trên những mỏm đá nhọn hoắt chọc ngược lên trời. Đám thợ rừng làng Nại từng bảo nhau rằng dưới đáy vực ấy chất đầy xương cốt của muông thú trượt chân và những kẻ bạo gan dám leo núi hái thuốc vào ban đêm mà phạm phải linh khí rừng thiêng. Một khi đã rơi xuống đó, thịt nát xương tan, đến cả mảnh xác vụn cũng khó lòng tìm lại để chôn cất nơi nghĩa địa gia tộc.
Khoa nhìn thấy bờ mép vực đang lao tới gần mình từng thước một.
Hai gót chân cậu cày sâu xuống lớp đất mùn bốc mùi lá ải, nhưng rãnh đất vừa đào ra lập tức sụt lở tan tành. Lớp đá dăm dưới lưng cậu rào rào trút xuống bóng tối, không hề vọng lại một tiếng va chạm nào từ đáy sâu. Sự im lặng rợn người dưới vực thẳm như một bàn tay vô hình sẵn sàng nuốt trọn bất cứ sinh linh nào rơi vào lòng nó.
Khoa xoay người lại, nằm sấp xuống nền đất nham nhở. Cậu giương mười đầu ngón tay ra, cào miết thật mạnh vào mặt đá sỏi ven đường để ghìm thân mình lại.
"Xoẹt... xoẹttt!"
Móng tay cậu quệt phải những gờ đá nhọn, bật ngược ra đằng sau. Cơn đau thấu tận tim gan bùng lên dữ dội khi từng chiếc móng tay bị đá dăm lột rách, tứa máu đỏ tươi hòa lẫn vào lớp đất cát thô nhám. Cậu cắn rách cả bờ môi dưới, máu tươi ứa ra mặn chát trong khoang miệng. Mười đầu ngón tay đẫm máu găm chặt vào một rãnh nứt giữa hai tảng đá cuội bám rêu, cố sức hãm lại đà trượt.
Thân hình cậu dừng lại trong tích tắc. Bắp tay phải gồng cứng ngắc, từng thớ thịt run rẩy dưới áp lực ghê gớm đang giằng co.
Nhưng sợi dây cước trên cao lại giật nảy lên một chập. Tiếng sáo diều trên lưng chừng trời rú lên một hồi lanh lảnh, nghe u uất và rợn óc tựa tiếng bầy quỷ đói đang vây quanh nắp ván thiên đòi ăn thịt sống. Lực giật tàn khốc giật tung rãnh đá cuội, bẻ gãy gập hai ngón tay trỏ và ngón giữa của bàn tay phải Khoa.
"Rắc!"
Âm thanh xương khớp gãy lìa khô khốc chìm nghỉm trong tiếng gió hú. Cơn đau choáng váng làm tầm mắt Khoa nhòe đi, nước mắt lẫn mồ hôi túa ra ròng ròng trên gương mặt tái mét. Cậu lại bị kéo tuột đi thêm nửa trượng nữa. Mép vực đen ngòm giờ nằm ngay sát dưới đầu gối cậu. Đất đá dưới chân bắt đầu sạt lở từng mảng lớn, đổ ầm ầm xuống khoảng không tăm tối bên dưới.
Trong cơn tuyệt vọng cùng cực, bàn tay phải đẫm máu của Khoa quờ quạng loạn xạ vào khoảng không ven bờ vực.
Bàn tay cậu va phải một vật thể sần sùi và cứng cáp.
Đó là một đoạn rễ cây duối rừng cổ thụ mọc trồi lên từ kẽ đá nứt sát mép vực. Thân cây duối đã bị sét đánh chết khô từ nhiều năm trước, cụt ngủn trơ trụi như một chiếc cọc mục, nhưng chùm rễ của nó vẫn bám chặt đến tàn bạo vào lòng vách đá Ba Vì. Đoạn rễ to bằng cổ tay trẻ con, xù xì những mắt gỗ đen sì và mấu gai nhọn hoắt.
Khoa dồn chút tàn lực cuối cùng, vươn cánh tay phải gãy ngón quặp chặt lấy đoạn rễ cây. Cậu vòng cả cánh tay qua mấu rễ, áp sát cả lồng ngực vào bờ đá lạnh ngắt. Những mấu gỗ nhọn hoắt của rễ duối đâm xuyên qua lớp áo vải phên, cắm sâu vào da ngực cậu, nhức nhối buốt giá. Nhưng chính cơn đau nhức ấy lại giữ cho thần trí cậu không bị ngất lịm đi trước luồng hàn khí độc địa đang phủ kín cơ thể.
Thân người Khoa lơ lửng một nửa ngoài mép vực. Hai chân cậu buông thõng giữa khoảng không đen ngòm, đón lấy những luồng gió lạnh từ đáy vực thổi ngược lên buốt tận tủy sống.
Sợi cước bị ghìm lại giữa hai đầu lực, căng cứng đến mức phát ra những tiếng rung bần bật như dây đàn đứt. Những giọt máu nâu trên thân cước văng tung tóe vào không trung, rơi lẹp bẹp xuống gáy Khoa, lạnh ngắt và nhớp nháp.
"Cót két... cót két..."
Đoạn rễ cây duối cổ thụ oằn mình dưới sức kéo hung hãn của cánh diều đen. Đất đá quanh kẽ nứt bắt đầu rạn nứt thêm những đường nứt mới, nhả ra từng vốc cát bụi mù mịt bay thốc vào mắt Khoa.
Cậu không dám buông tay. Cậu cũng không thể buông tay. Mỗi một tấc da thịt trên người cậu lúc này đều đang gồng lên trong cuộc chiến sinh tử với cái chết. Cậu nhìn thấy ánh lửa ma trơi trên con diều cánh ưng vẫn cháy hừng hực trên tầng mây u ám, soi rọi vào cái bóng gầy guộc trơ xương đang lơ lửng ngay phía trên đầu mình.
Cái bóng treo ngược ấy đã trượt xuống tới nấc dây cuối cùng.
Nó không còn cách xa cậu hai trượng hay một trượng nữa. Thân hình vặn vẹo khẳng khiu bọc sát khung xương sọ của nó lúc này chỉ còn cách mặt Khoa chừng hai gang tay. Mái tóc khô ráp như rễ tre của nó xõa rượi, rủ xuống quẹt qua sống mũi cậu, để lại những vệt ngứa ngáy tanh nồng mùi tử khí.
Khoa ngửa mặt lên nhìn vào cái bóng tà ác.
Đến lúc này, dưới ánh sáng đỏ quạnh rỉ ra từ thân diều gỗ mục, cậu mới kinh hoàng nhận ra một sự thật méo mó đến tột cùng.
Khuôn mặt chúc ngược của cái bóng không hề có mắt, mũi hay miệng như hình hài của một con người.
Bề mặt da thịt của nó phẳng lì một mảng màu xám chì chết chóc, giống hệt một tấm bìa giấy dó quét đầy bùn đất đáy mồ rồi đem phơi sương qua nhiều tháng năm. Trên bề mặt phẳng lặng quái đản ấy, người ta đã dùng một lưỡi dao sắc lẹm khắc sâu vào từng đường rạch chằng chịt, nham nhở và tàn bạo.
Những vết rạch ấy không ngẫu nhiên. Chúng rỉ ra từng dòng máu bầm tím sền sệt, đen kịt như mực tàu pha mật thú dữ, tạo thành những nét vẽ ngoằn ngoèo, gãy khúc và sắc cạnh.
Từng nét rạch sâu hoắm trên da mặt quỷ mô phỏng chuẩn xác đến từng góc cạnh của những ký tự phù chú bão gió.
Đó chính là những dòng mật chú cổ xưa mà Khoa đã lén nhìn thấy trên cánh diều đen tuyền của Cao Biền giấu kín dưới đáy rương gỗ của ông nội. Những ký tự nguyền rủa tầng trời, những nét chữ tượng hình đại diện cho sự giam cầm oán niệm của những kẻ bị đày ải trên chín tầng mây không được siêu thoát, nay lại hiển hiện bằng những vết thương há miệng tứa máu ngay trên khuôn mặt trơ xương này.
Mỗi khi luồng gió chướng trên đỉnh Ba Vì gầm lên một đợt, những vết rạch rỉ máu trên mặt cái bóng lại co giật phập phồng. Máu bầm trào ra từ các khe nứt ngoằn ngoèo, chảy tràn xuống trán, xuống gò má phẳng lì rồi rỏ từng giọt to tướng xuống mặt Khoa.
Một giọt máu rơi trúng khóe mắt trái của cậu. Cơn cay rát buốt nhói bốc lên như có tàn lửa dí thẳng vào giác mạc, làm mắt trái Khoa mù mịt trong một màn sương đỏ ngầu tanh tưởi.
Từ giữa mảng phù chú rạch máu trên mặt cái bóng, một tiếng rít khàn đặc vang lên. Không có đôi môi nào mấp máy, âm thanh rùng rợn ấy phát ra trực tiếp từ các thớ thịt nứt toác đang rung bần bật:
"Máu... trả... máu... trời... trả... trời..."
Bàn tay sáu ngón khô khốc của nó chầm chậm hạ xuống. Sáu chiếc móng nhọn hoắt đen xì như than củi xòe rộng, chĩa thẳng vào đỉnh sọ của Khoa. Hơi lạnh từ những móng vuốt ấy tỏa xuống làm da đầu cậu tê buốt đến tận chân tóc, từng tế bào như đông cứng lại dưới áp lực của cái chết đang cận kề trong gang tấc.
Dưới mép vực thẳm, đoạn rễ cây duối già lại phát ra một tiếng "rắc" giòn tan.
Một vết nứt lớn xé dọc thân rễ gỗ mục. Đất đá quanh mấu rễ sụt lở dữ dội, cuốn theo nửa thân mình Khoa trượt sâu thêm một tấc nữa ra ngoài khoảng không đen ngòm. Lực kéo từ sợi cước gai rừng siết mạnh đến mức xương cổ tay trái của cậu phát ra tiếng lạo xạo ghê rợn, cảm giác như các khớp xương sắp sửa bị xé toạc ra khỏi cẳng tay.
"Ông ơi..."
Tiếng gọi cuối cùng của Khoa chỉ còn là một hơi thở thều thào nghẹn ứ nơi cuống họng rách toạc. Mười đầu ngón tay cậu đã mòn vẹt máu me, không còn chút sức lực nào để bấu víu. Trước mắt cậu, vực thẳm sâu không đáy mở rộng đón chờ, còn ngay trên đỉnh đầu, bàn tay sáu ngón mang theo oán niệm ngàn năm của cánh diều Cao Biền đang gập móng, chuẩn bị cắm phập vào hộp sọ đứa trẻ làng Nại.