Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 21: Đốt Thiêu Rụi Cuộn Dây

Rễ cây duối già toác ra một tiếng rắc khô khốc. Vết nứt xé dọc thớ gỗ mục rỉ ra lớp nhựa trắng đùng đục, sỏi đá quanh kẽ nứt rào rào trút xuống hố thẳm…

Nội dung chương

Rễ cây duối già toác ra một tiếng rắc khô khốc.

Vết nứt xé dọc thớ gỗ mục rỉ ra lớp nhựa trắng đùng đục, sỏi đá quanh kẽ nứt rào rào trút xuống hố thẳm Ba Vì. Khoa trượt thêm một tấc nữa. Cả nửa thân dưới của cậu bé lơ lửng ngoài mép vực, gió núi thốc ngược từ lòng vực sâu hun hút lên lạnh buốt xương sườn. Sợi dây cước gai rừng căng đến độ rung bần bật, từng tao dây bện xoắn siết nghiến vào cổ tay trái của Khoa, bóp nghẹt mạch máu khiến năm đầu ngón tay cậu tím tái như chân gà luộc nguội.

Ngay phía trên đỉnh đầu cậu, cái bóng treo ngược từ cánh diều chim ưng hạ thấp thêm vài phân.

Sáu chiếc móng tay đen xì, nhọn hoắt như những lưỡi đục thợ mộc đã kề sát tới chân tóc Khoa. Hơi lạnh chết chóc từ những đầu ngón tay khẳng khiu ấy tỏa xuống buốt nhói, làm da đầu cậu rát buốt, toàn bộ sợi tóc dựng đứng lên trong nỗi kinh sợ tột cùng. Máu bầm từ những vết rạch phù chú bão gió trên khuôn mặt phẳng lì của thực thể ma quái nhỏ từng giọt đặc quánh xuống sống mũi, xuống bờ mi Khoa. Mỗi giọt máu rơi xuống lại bốc lên làn khói xám nhạt, xộc vào mũi một mùi tanh nồng của bùn ao lưu cữu ngàn năm dưới chân núi.

Khoa muốn giật tay lại, muốn co chân đạp vào vách đá để bám lấy mặt đất, nhưng toàn thân cậu đã tê dại.

Hàn khí ngấm sâu vào từng khớp xương, phong tỏa toàn bộ gân cốt của một đứa trẻ mười bốn tuổi. Mười đầu ngón tay bấu vào rễ cây duối rách toạc da thịt, máu tươi ứa ra chảy ròng ròng theo kẽ đá, nhưng cậu không còn cảm giác đau đớn. Thần trí Khoa lịm dần đi giữa tiếng gió chướng gầm thét trên tầng mây đen đặc và tiếng rít khàn đục phát ra từ những thớ thịt nứt nẻ trên mặt con quỷ:

"Máu... trả... máu... trời... trả... trời..."

Lực kéo từ cánh diều đen trên trời bỗng giật nảy một nhịp hung hãn. Dây cước gắt lên, kéo giật cả cánh tay trái Khoa lên khỏi mấu rễ. Rễ duối già phát ra tiếng răng rắc liên hồi chuẩn bị gãy lìa. Mép vực đen ngòm há to cái miệng tăm tối, chỉ chực nuốt trọn thân hình còm cõi của đứa trẻ làng Nại xuống đáy vực sâu muôn trượng.

Khoa tuyệt vọng nhắm nghiền mắt lại. Trong đầu cậu vụt qua hình ảnh hiên nhà cũ kỹ, tiếng kẽo kẹt của giàn phơi tre nứa dán giấy dó, và mùi hương bài thoang thoảng từ bàn thờ tổ tiên mỗi độ hội làng. Cậu đã gây ra tai họa tày đình. Lòng tò mò dại dột đã đánh thức oán niệm cổ xưa của kẻ ngã từ trên mây xuống đất, và giờ đây vực sâu Ba Vì sẽ là nấm mồ chôn vùi mạng sống của cậu.

Đúng lúc bàn tay sáu ngón khô khốc co quắp lại, chuẩn bị cắm phập vào hộp sọ Khoa, một tiếng quát già nua vang lên xé toạc màn mưa gió:

"Nghiệt súc! Dừng tay lại!"

Tiếng thét mang theo khí lực trầm hùng của người thợ già làm chấn động cả vách đá tai mèo.

Khoa giật mình mở trừng mắt trái còn chưa bị máu bầm che khuất.

Qua màn mưa dầm dề và lớp sương mù đỏ quạnh, một bóng người gầy guộc xé toạc đêm đen lao tới. Người đó mặc tấm áo cánh nâu sồng ướt sũng dán chặt vào đôi bờ vai gầy, vạt áo rách tơi tả bay phần phật trong gió bão. Đôi bàn chân trần gân guốc, đen đúa vì bùn đất và sương gió vùng đồi gò đạp thẳng lên những mỏm đá tai mèo sắc lẻm trơn tuột.

Ông nội.

Là ông Vạn.

Người thợ làm diều già cả của làng Nại cả đời chỉ cặm cụi bên khung tre, giấy dó và những con dao vót nan, lúc này hiện ra sừng sững giữa dốc đá hiểm trở. Bóng lưng còng còng gầy guộc vì năm tháng của ông in hằn trên nền trời xám xịt, nhưng từng bước chân dậm xuống nền đất sỏi lại vững chãi như những cọc gỗ lim đóng sâu vào lòng đất mẹ. Cơn bão gió Ba Vì gào thét cuồng loạn, cây cỏ ngả nghiêng xơ xác, nhưng thân hình ông Vạn vẫn đứng thẳng tắp, không hề chao đảo nửa phân.

Khoa òa khóc. Nước mắt nóng hổi tuôn trào trên gò má lem luốc bùn đất và máu khô, hòa lẫn với dòng nước mưa buốt giá.

Một nỗi ân hận tột cùng bóp nghẹt lồng ngực đứa cháu trai mười bốn tuổi. Cậu nhìn thấy đôi mắt già nua của ông trũng sâu, khóe mắt hằn lên những nếp nhăn nứt nẻ vì lo âu và mệt mỏi. Suốt từ chiều tối, khi phát hiện chiếc rương gỗ cổ dưới gậm giường bị mở toang và con diều chim ưng biến mất, người ông già yếu ấy đã phải cuốc bộ vượt qua hàng chục dặm đường rừng gập ghềnh, lội qua những con suối cạn đầy đá hộc lởm chởm trong đêm mưa giông để đi tìm cậu. Đôi bàn chân trần của ông rướm máu, những vết đá cứa ngang dọc nơi mắt cá chân, nhưng ông không hề chùn bước.

Khoa muốn cất tiếng gọi ông, muốn van xin sự tha thứ, nhưng cổ họng cậu rách toạc chỉ phát ra những tiếng thở phì phò nghẹn ứ nơi lồng ngực. Cậu chỉ biết trơ mắt nhìn ông nội lao qua triền dốc đá nguy hiểm.

Trên tay trái của ông Vạn, một vật thể khiến không gian xung quanh bừng lên sắc đỏ kỳ lạ.

Đó là một chiếc bát sành da lươn màu nâu thẫm, miệng bát mẻ một vết con con do dùng lâu năm. Bên trong lòng bát chứa đầy một thứ chất lỏng màu đỏ tươi đặc quánh, bốc lên những làn hơi ấm áp nghi ngút giữa khí trời lạnh buốt của đỉnh núi. Mùi máu tươi nồng đậm xộc thẳng vào không gian, lấn át đi mùi tử khí tanh tưởi của con quỷ treo ngược.

Đó là máu của một con gà trống thiến to bản, thứ máu thuần dương tích tụ dương khí của trời đất, được trích ra từ chiếc mào cờ đỏ chót của con gà tế thần linh thiêng nhất làng Nại.

Điều quái lạ nằm ở chính chiếc bát ấy.

Ông Vạn đang sải những bước dài băng qua bãi đá lổn nhổn, đôi chân trần đạp mạnh lên những tảng đá tai mèo trơn nhẫy rêu phong, thân người dập dềnh theo từng cú nhảy qua bờ mương cạn. Thế nhưng, bát sành da lươn đặt trên lòng bàn tay thô ráp của ông lại thăng bằng đến mức khó tin.

Chất lỏng màu đỏ tươi bên trong không hề sánh ra ngoài dù chỉ một giọt nhỏ. Mặt máu trong bát phẳng lì như một tấm gương soi, phản chiếu tia chớp rạch ngang bầu trời đêm Ba Vì. Khói máu bốc lên cuồn cuộn thành một cột khí mỏng manh nhưng kiên cường, chống chọi lại những cơn gió giật từng hồi muốn thổi bạt mọi thứ xuống vực sâu. Đôi bàn tay của người thợ già cả đời giữ cữ đục, giữ sống dao vót nan tre mỏng như cánh ve đã rèn luyện cho ông một sự chuẩn xác tuyệt đối, biến đôi tay thành một bàn thạch vững bền không gì lay chuyển nổi.

Còn trên tay phải của ông Vạn, ánh thép lạnh buốt lóe lên rực rỡ.

Đó là con dao chém mía gia truyền. Lưỡi dao dài hơn gang tay, bản dày dặn, sống dao gồ lên một đường cong thô mộc xám xịt màu sắt rèn thủ công. Phần lưỡi sắc lẹm được mài nhẵn thín trên đá suối suốt ba mươi năm qua, phản chiếu ánh sáng trắng lóa của những lằn chớp giật. Chuôi dao bằng sừng trâu đen bóng, nơi tiếp giáp giữa sừng trâu và lưỡi thép được bọc một vòng đồng đỏ xước dăm, hằn rõ dấu tích của mồ hôi và bàn tay lao động qua hai thế hệ thợ thủ công làng Nại.

Con dao ấy từng phạt hàng vạn cây tre già, từng đẽo gọt hàng ngàn thanh gỗ mít làm sườn diều, nay được tuốt ra giữa chốn hiểm địa với một sát khí ngút trời.

Cái bóng sáu ngón treo ngược trên sợi cước cảm nhận được luồng dương khí mãnh liệt đang áp sát.

Nó khựng lại. Bàn tay khô khốc với sáu chiếc móng nhọn đen đúa chỉ còn cách thóp đầu Khoa nửa đốt ngón tay bỗng run rẩy dữ dội. Những thớ thịt nứt nẻ rạch hình bùa chú trên khuôn mặt phẳng lì co thắt liên hồi, trào ra từng dòng máu bầm tím sền sệt. Cái đầu lâu chúc ngược từ từ xoay một góc một trăm tám mươi độ, phát ra những tiếng lạo xạo ghê rợn của khớp xương cổ đã gãy nát từ ngàn năm trước.

Hai hốc mắt rỗng tuếch sâu hoắm của thực thể tà ác bùng lên hai đốm than đỏ quạnh, trừng trừng nhìn thẳng vào bóng hình ông lão làng Nại đang lao tới.

Cánh diều chim ưng trên tầng mây đen dường như cũng cảm nhận được sự đe dọa. Bộ sáo diều trên lưng nó phát ra một chuỗi âm thanh gầm rú xé rách màng nhĩ. Tiếng sáo không còn là tiếng than khóc ai oán nữa, mà chuyển thành một hồi còi trận ma quái, gào thét từng đợt dồn dập khiến không khí xung quanh mép vực đặc quánh lại, ép chặt vào lồng ngực hai ông cháu.

"Buông đứa bé ra!"

Ông Vạn thét lớn. Bước chân cuối cùng của ông dậm mạnh lên tảng đá hoa cương sát mép vực, bụi đá và đất ẩm bắn tung tóe dưới gót chân trần.

Ông không nhìn vào đôi mắt ma trùm của thực thể tà ác, cũng không nhìn xuống vực thẳm sâu hun hút đang chực chờ nuốt chửng đứa cháu nội duy nhất của dòng họ. Ánh mắt người thợ già rực lên một ngọn lửa kiên định, chiếu thẳng vào điểm nối giữa cổ tay Khoa và tao cước rừng tanh tưởi.

Ông nghiêng người, hạ thấp trọng tâm, thế đứng vững chãi như một cây lim cổ thụ ngàn năm cắm rễ trên đỉnh núi Tản.

"Khoa! Nín thở!" Tiếng ông vang lên đanh gọn như tiếng đục gõ vào thớ gỗ mít.

Khoa cắn chặt răng, nuốt ngược ngụm máu ứ nơi cổ họng vào trong. Cậu nhìn thấy bờ ngực gầy gò của ông phập phồng theo từng nhịp thở sâu và nặng nhọc, nhưng cánh tay cầm dao của ông không hề run rẩy dù chỉ một sợi tơ.

Cái bóng treo ngược rít lên một tiếng the thé xé tai.

Bàn tay sáu ngón của nó không chần chừ thêm nữa, đột ngột quặp xuống đỉnh đầu Khoa với tốc độ xé gió. Cùng lúc đó, sợi cước đen rung lên bần bật, kéo giật cơ thể cậu bé ra ngoài mép đá thêm một khoảng, toan kéo cả hai ông cháu cùng lao đầu xuống vực thẳm.

Giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết, ông Vạn chuyển động.

Chiếc bát sành trên tay trái ông khẽ nghiêng đi một góc chuẩn xác. Dòng máu gà trống thiến đỏ thẫm, bốc khói ngùn ngụt chảy tràn ra khỏi miệng bát mẻ, trút thẳng xuống dọc theo chiều dài của lưỡi dao chém mía.

Máu tươi gặp thép nguội lập tức phát ra những tiếng xèo xèo chói tai, tựa như có ngọn lửa ngầm đang thiêu đốt bên trong kim loại. Lớp máu đỏ quánh bám chặt vào bề mặt lưỡi dao, phủ lên ánh thép sáng loáng một lớp màng đỏ thẫm huyền bí. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn từ sống dao, mang theo mùi nồng ấm của sinh khí xua tan mùi xú uế bao trùm mép vực.

Cái bóng quái đản rú lên một tiếng kinh hoàng. Khi nhìn thấy máu gà trống thiến hòa vào ánh thép rèn thủ công, những vết rạch bùa chú trên mặt nó bắt đầu giãy giụa như những con giun đất bị ném vào tro nóng. Nó vội vã muốn rút bàn tay sáu ngón ngược trở lên dây cước để trốn chạy.

Nhưng người thợ già làng Nại đã vung cánh tay lên.

Lưỡi dao chém mía nhúng máu gà xé gió rít lên một tiếng u u trầm hùng. Ánh thép đỏ rực vạch ra một đường cong hoàn hảo giữa màn mưa giăng kín đỉnh Ba Vì, nhắm thẳng vào đoạn dây cước đang trói chặt linh hồn đứa cháu trai.

Chương khác

Xem thêm