MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 14: Qua giỗ hẵng hay
Sáng ngày 27 tháng Tư, Nguyễn Hoàng Nam tới nhà cụ Nguyễn Văn Duệ lần thứ hai. Lần này anh đi tay không. Không cặp hồ sơ, không biên bản đo đạc, không…
Nội dung chương
Sáng ngày 27 tháng Tư, Nguyễn Hoàng Nam tới nhà cụ Nguyễn Văn Duệ lần thứ hai. Lần này anh đi tay không. Không cặp hồ sơ, không biên bản đo đạc, không bản vẽ in khổ lớn cuộn tròn như lần trước. Anh chỉ mang theo chính mình và một câu chuyện mà anh đã giấu gần bốn ngày, kể từ buổi chiều cái rãnh đào thử lộ ra khúc xương người ở cách gốc cây khoảng mười lăm mét.
Ngõ vào nhà cụ vẫn như cũ, hai bên là hàng rào dâm bụt và những luống rau xanh mướt. Cổng tre khép hờ. Nguyễn Thị Lan đang quét sân, thấy anh thì dừng chổi, nhìn một lượt từ tay không của anh xuống đôi dép dính bụi đường, rồi khẽ gật đầu như đã hiểu anh tới không phải để vận động ký giấy. Cô mời anh vào nhà, pha trà như lần trước, nhưng lần này cô không đỡ lời vòng vo cho ông nội nữa. Cô đặt ấm trà xuống, ngồi sang một bên và để hai người đàn ông tự nói chuyện với nhau.
Cụ Duệ ngồi ở chiếc ghế gỗ gần cửa sổ, trước mặt là bàn thờ gia tiên và, ở thấp hơn một bậc, bát hương riêng với mười hai thẻ bài gỗ nhỏ xếp ngay ngắn mà Nam đã thấy trong lần tới trước. Lần này anh nhìn bát hương ấy lâu hơn. Mười hai thẻ bài, không ảnh, không chữ nhìn rõ từ xa, đứng lặng trong mùi hương trầm và mùi gỗ cũ của căn nhà. Cụ rót trà, đẩy chén về phía anh, rồi im lặng chờ. Người già trong làng có một cách im lặng rất khác, không sốt ruột, không thúc giục, chỉ ngồi đó và để người đối diện tự thấy không thể nói dối thêm được nữa.
Nam hít một hơi, rồi nói thẳng. Anh nói mình đã có mặt ở hiện trường cái rãnh đào hôm 23, đã nhìn thấy vệt đất mới lấp khác màu, đã nhặt được một mảnh vải áo mục còn sót lại trên mặt đất và giữ nó tới hôm nay. Anh nói Phạm Văn Đức đã ra lệnh lấp vội và dặn cả đội không được nói ra ngoài, và anh, dù biết đó là xương người. Đã im lặng theo lệnh tiến độ, đã báo cáo mập mờ về công ty, đã không ngăn được cả lần cưa cây hôm 25 lẫn nhát rìu hôm 26. Anh nói anh tới hôm nay không phải để xin cụ ký bất cứ giấy tờ gì. Anh chỉ muốn biết sự thật trước khi có thêm người nữa bị thương, và anh muốn chính cụ nghe từ miệng anh rằng anh đã im lặng, chứ không phải nghe lại qua người khác.
Nói xong, cổ họng anh khô rát. Anh chờ một lời trách mắng. Cụ Duệ xứng đáng trách anh hơn bất cứ ai. Nhưng cụ không mắng. Cụ im lặng rất lâu, lâu đến mức Lan phải khẽ đứng dậy châm thêm nước vào ấm trà, tiếng nước rót vào ấm nghe rõ trong căn nhà yên tĩnh. Cụ nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi từ góc sân nhà cụ có thể thấy một phần tán hoa đỏ của cây gạo ở đầu ngõ, rồi cụ mới chậm rãi lên tiếng.
Cụ bảo, dưới gốc gạo kia là mồ chung của những người chết từ thời chống Pháp. Không phải mồ của một người, không phải chuyện ma quỷ mơ hồ như người ngoài vẫn đồn. Là con gái làng này cả. Họ chết trẻ, chết cùng nhau, và được dân làng chôn giấu ở đó trong một đêm không ai dám nhắc lại suốt mấy chục năm. Cụ nói tới đó thì dừng, như cân nhắc xem nên mở thêm bao nhiêu cho một người ngoài mới tới làng được hơn mười ngày. Rồi cụ nói một câu làm Nam ngồi thẳng dậy. Ngày mai, 12 tháng Ba âm lịch, là ngày giỗ của họ.
Lan ở bên cạnh khẽ tiếp lời, giọng đều và rõ. Cô bảo làng đã làm giỗ này lặng lẽ từ rất lâu rồi, lặng lẽ đến mức người ở xã khác, thậm chí người trẻ trong làng, nhiều người cũng chỉ biết sơ sơ là đầu làng có ngày giỗ chung vào tháng Ba. Chứ không biết rõ giỗ ai, vì sao lại giỗ chung, và vì sao bàn thờ trong nhà cụ lại có một bát hương riêng với mười hai thẻ bài. Năm nào cũng vậy, các nhà quanh đầu làng góp gạo, góp hương hoa, làm một mâm cơm ở đình và một mâm dưới gốc cây, đọc tên các chị trong phạm vi người làng với nhau, rồi ai về nhà nấy. Không cờ hoa, không loa đài, không khách khứa.
Cụ Duệ gật đầu với lời của cháu, rồi quay sang Nam. Cụ hẹn anh tối mai, tức là trong ngày giỗ, ra đình dự lễ giỗ của làng. Cụ nói có mặt thì sẽ hiểu thêm một tầng. Anh sẽ được nghe những cái tên, sẽ thấy cách làng này nhớ người đã khuất của mình. Nhưng cụ cũng nói rõ, tầng sâu nhất thì chưa nói được trong hôm nay. Qua giỗ hẵng hay. Có những chuyện chỉ nói được sau khi đã thắp hương xin phép người chết. Cụ nói câu ấy không phải để làm cao hay để thử thách anh. Cụ nói như nói về một lệ làng đã giữ cả đời người, rằng người sống muốn nhắc tới người chết một cách đầy đủ thì trước hết phải tới trước bàn thờ của họ, thắp một nén hương, đứng cho đàng hoàng trong ngày giỗ của họ đã.
Nam nghe mà thấy lòng mình nhẹ đi một phần, nặng thêm một phần khác. Nhẹ vì cụ không đuổi anh ra khỏi nhà sau lời thú nhận ấy. Nặng vì anh hiểu, lời hẹn ngày mai không phải một phần thưởng. Đó là một cánh cửa chỉ mở ra từng tầng một, và anh mới đứng ở tầng ngoài cùng. Anh hỏi cụ, vậy ngày mai anh nên tới lúc nào, nên mang theo gì. Lan đáp thay ông, rằng anh cứ tới đình từ sớm, ăn mặc chỉnh tề, không cần mang gì ngoài hương hoa nếu muốn, và nếu đội thi công có ai muốn tới thì cứ tới đứng sau hàng dân làng, miễn là đứng cho nghiêm túc. Cô nói thêm rằng Đức đã được trưởng thôn báo trước, có lẽ đội sẽ tới gần đủ, vì sau chuyện hôm qua, không ai trong đội còn dám coi ngày giỗ này là chuyện của riêng dân làng nữa.
Trong lúc nói chuyện, có một lúc cụ Duệ đưa tay lên day day sống mũi, mắt nhìn xuống chén trà đã nguội, và Nam nhận ra người già trước mặt mình không chỉ đang giữ một bí mật của làng. Cụ đang giữ một phần đời của chính gia đình cụ, một phần mà cụ đã giữ từ khi còn rất trẻ cho tới tận bây giờ, khi tóc đã bạc hết và tay chống gậy đã run. Anh không dám hỏi sâu thêm. Anh biết có những câu hỏi, nếu hỏi dồn trong một buổi sáng, sẽ làm người đối diện khép lại thay vì mở ra. Anh chỉ hỏi một câu cuối, rằng vì sao làng giữ kín chuyện này lâu đến vậy, trong khi các chị là người có công, đáng được thờ cúng đàng hoàng. Cụ thở dài, bảo chuyện ấy dài, không thể nói hết trong một buổi, và một phần của câu trả lời nằm ở chính ngày giỗ ngày mai. Làng giữ kín không phải vì xấu hổ, cũng không phải vì sợ bị cười là mê tín. Làng giữ kín vì ngày xưa người ta chôn giấu trong cảnh bị cấm đoán, chôn xong thì thề với nhau là không khai ra khi chưa tới lúc. Và cái lúc ấy cứ bị đẩy lùi mãi qua chiến tranh, qua những năm tháng khó khăn, qua cả sự dè dặt của chính quyền địa phương mỗi khi nhắc tới một nấm mồ không giấy tờ. Nghe tới đó, Nam càng thấy rõ lời hẹn qua giỗ hẵng hay của cụ không phải là cách nói để trì hoãn. Đó là thứ tự duy nhất mà cụ còn tin được, thắp hương trước, nói chuyện sau, để người sống không tự cho mình cái quyền đào xới quá khứ của người chết chỉ vì công việc của mình đang gấp.
Lan tiễn anh ra tới cổng và dặn thêm rằng tối nay làng sẽ tắt đèn sớm, các nhà quanh đầu làng sẽ đặt hương và nước trước cổng như mọi năm trước ngày giỗ. Cô bảo anh nếu đêm nay có nghe thấy gì lạ từ phía gốc cây thì cũng đừng hoảng, cứ ở yên trong phòng trọ, sáng mai tới đình sớm là được. Cô nói câu ấy bằng giọng bình thản của một cô giáo đã quen với ngày giỗ này từ bé, nhưng Nam nghe xong vẫn thấy sống lưng mình hơi lạnh, vì anh nhớ tiếng ru con mà Hậu từng kể. Nhớ vòng hoa xếp hàng dưới gốc cây, và nhớ rằng đêm nay là đêm ngay trước ngày giỗ, đêm mà theo lời bà bán nước ở bến đò, các chị sẽ về gần nhất.
Trước khi ra về, Nam đứng lại trước bàn thờ một lúc. Anh không dám thắp hương khi chưa được mời chính thức trong ngày giỗ, chỉ cúi đầu rất thấp trước bát hương có mười hai thẻ bài gỗ. Từ khoảng cách gần hơn lần trước, anh cố nhìn những thẻ bài ấy, nhưng chữ trên thẻ, nếu có, đã mờ hoặc được quay mặt vào trong, anh vẫn không đọc được một cái tên nào. Điều đó làm anh thấy rõ hơn bao giờ hết khoảng cách giữa việc biết dưới gốc cây có người và việc biết họ là ai. Anh đã giữ một mảnh vải mục của một trong số họ trong túi áo mấy ngày nay mà không hề biết tên người mặc tấm áo ấy.
Ra khỏi cổng nhà cụ, nắng đã lên cao, ngõ làng vắng người vì đang giờ trưa. Nam quay lại nhìn ngôi nhà cũ một lần nữa, nhìn mái ngói rêu phong, nhìn hàng cau trước sân, nhìn khói hương mỏng còn bay ra từ cửa sổ. Và bỗng nhiên anh hiểu ra một điều rất rõ ràng, rõ đến mức anh đứng sững giữa ngõ. Bát hương mười hai thẻ bài gỗ trong nhà cụ chính là bàn thờ của những người nằm dưới gốc cây. Không phải vật trang trí, không phải lệ mê tín mơ hồ. Đó là nơi một gia đình trong làng này đã âm thầm thờ cúng mười hai người con gái suốt bao nhiêu năm, trong khi ở đầu làng. Nấm mồ chung của họ không có một tấm bia nào ghi tên, và trên giấy tờ của nhà nước, như cụ vừa ám chỉ, chưa chắc đã có đủ tên của họ.
Anh đi bộ về phía đầu làng, ngang qua gốc cây gạo. Vết rìu ở độ cao một mét tư phía hướng ra đường vẫn còn đó, miệng vết chém đã sẫm lại nhưng chưa khép, nhựa khô quánh quanh mép như một vệt máu cũ. Anh đứng xa nhìn vết chém ấy, nghĩ tới ngày mai, ngày giỗ 12 tháng Ba âm, và tự nhủ rằng lần này anh sẽ tới đình từ sớm. Sẽ đứng ở hàng sau cùng của dân làng, và sẽ lắng nghe cho hết những cái tên mà bấy lâu nay anh chưa từng được nghe.