MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 17: Năm bộ hồ sơ và bảy người mất tích

Chiều ngày 28 tháng Tư, ngay sau lễ giỗ, Nguyễn Thị Lan hẹn Nguyễn Hoàng Nam cùng cô đi tra cứu hồ sơ. Cô nói nếu chỉ nghe cụ Duệ ám chỉ ở hiên đình thì…

Nội dung chương

Chiều ngày 28 tháng Tư, ngay sau lễ giỗ, Nguyễn Thị Lan hẹn Nguyễn Hoàng Nam cùng cô đi tra cứu hồ sơ. Cô nói nếu chỉ nghe cụ Duệ ám chỉ ở hiên đình thì anh sẽ chưa thấy hết được sự việc, phải tận mắt nhìn vào giấy tờ. Nhìn vào những con dấu và những dòng chữ mất tích lạnh lùng trên hồ sơ, anh mới hiểu vì sao làng này giữ ngày giỗ lặng lẽ suốt mấy chục năm mà vẫn thấy mình có lỗi với các chị. Sáng ngày 29, hai người tới Ủy ban nhân dân xã An Hòa trước, rồi theo giấy giới thiệu của xã lên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội của huyện để đối chiếu danh sách.

Nam mang theo cuốn sổ tay của mình, trong đó anh đã chép lại đầy đủ mười hai cái tên và tuổi của các chị theo thứ tự đọc trong lễ giỗ, từ đội trưởng Nguyễn Thị Mận 26 tuổi tới em út Đỗ Thị Mai 17 tuổi. Lan mang theo một tập tài liệu mỏng của gia đình và của trường, gồm những bản sao đơn đề nghị xác minh mà cô đã từng gửi đi. Cô kể trên đường đi rằng cô đã hai lần làm đơn đề nghị xác minh cho cả tổ, một lần khi mới về làng dạy học, một lần cách đây vài năm khi xã rà soát lại hồ sơ người có công. Cả hai lần đơn đều bị trả lại, không phải vì cán bộ làm khó một cách vô lý, mà vì một lý do lặp đi lặp lại đến mức thuộc lòng, thiếu căn cứ về nơi an táng.

Ở xã, cán bộ phụ trách văn hóa xã hội lật những cuốn sổ lưu trữ đã cũ, tra cứu rất nhiệt tình nhưng cũng rất dè dặt. Ông xác nhận làng Xuân Đào có ngày giỗ tập thể 12 tháng Ba âm lịch từ lâu, xã biết việc ấy. Nhưng hồ sơ liệt sĩ là hồ sơ của huyện và của tỉnh quản lý, xã chỉ giữ phần danh sách người có công đã được công nhận trên địa bàn. Khi đối chiếu với danh sách của Nam, phần của xã khớp một cách đau lòng với điều cụ Duệ đã ám chỉ. Chỉ có năm chị có tên trong danh sách người có công đã được công nhận của xã, kèm số hồ sơ đầy đủ.

Lên tới huyện, kết quả cũng y như vậy, chỉ rõ ràng và chính thức hơn. Cán bộ của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội mang ra những tập hồ sơ được bảo quản cẩn thận, cho hai người đối chiếu từng cái tên một theo đúng thủ tục tiếp công dân. Năm chị có hồ sơ hoàn chỉnh, có giấy báo tử, có xác nhận của đơn vị hoặc của chính quyền thời ấy, đã được công nhận liệt sĩ từ lâu, gia đình hoặc dòng họ của các chị đã được hưởng chế độ theo quy định. Bảy chị còn lại, dù hy sinh cùng một đêm, cùng một tổ, cùng một bến đò, lại bị ghi là mất tích trong chiến tranh. Trên giấy tờ, bên cạnh tên của họ chỉ có những dòng ngắn ngủi và lạnh lùng, không có giấy báo tử, không có đơn vị xác nhận đầy đủ, và đặc biệt là không có phần mộ được khai báo.

Nam ngồi trong phòng làm việc có mùi giấy cũ và mùi mực in, nhìn bảy dòng chữ mất tích ấy mà thấy tay mình lạnh đi. Anh vừa mới hôm qua đứng trong đình làng nghe mười hai cái tên được đọc lên trang trọng trước mặt hàng trăm người. Vừa mới thấy cụ Duệ cúi đầu khi nghe tên mẹ mình, vừa mới đi theo đoàn người ra gốc cây thắp hương cho cả mười hai người. Vậy mà ở đây, trên hệ thống giấy tờ của nhà nước, gần một nửa trong số họ vẫn đang mất tích. Như thể đêm bến đò năm 1950 chưa từng có một nấm mồ nào được đào dưới gốc cây gạo, như thể làng Xuân Đào chưa từng giữ ngày giỗ này suốt bảy mươi sáu năm.

Lan ngồi bên cạnh, mặt bình tĩnh một cách cố gắng. Cô nói cô thuộc lòng kết quả này rồi, mỗi lần tra lại là một lần nghe lại y như cũ, nhưng cô vẫn tra, vì cô là cháu nội của cụ Duệ. Là cháu gọi đội trưởng Mận bằng bà, và vì trong bảy người bị ghi mất tích ấy có những người là họ hàng, là người cùng ngõ với gia đình cô. Cô kể, hai lần đơn của cô bị trả lại đều vì cùng một vòng lẩn quẩn. Muốn công nhận liệt sĩ thì phải có căn cứ về hy sinh và nơi an táng. Muốn khai báo nơi an táng thì phải nói rõ nấm mồ chung dưới gốc cây gạo, điều mà suốt mấy chục năm qua cả làng tránh nói chính thức vì sợ khai ra rồi sẽ bị yêu cầu khai quật. Di dời, hoặc khuấy động nơi các chị nằm khi chưa ai chịu trách nhiệm rõ ràng cho việc ấy. Làng sợ làm sai một bước thì tội với người chết còn lớn hơn tội để yên như cũ. Cứ thế, năm này qua năm khác, nấm mồ vẫn nằm yên dưới rễ cây, ngày giỗ vẫn được giữ lặng lẽ, và bảy cái tên vẫn nằm nguyên trong mục mất tích.

Cán bộ huyện, một người phụ nữ trung niên nói năng nhỏ nhẹ, nghe Lan trình bày xong thì thở dài và giải thích thêm bằng giọng nghề nghiệp mà không giấu được sự ái ngại. Bà nói hồ sơ người có công không thể công nhận bằng lời kể miệng, dù lời kể ấy là của cả một làng. Cần có căn cứ, cần có xác nhận về nơi an táng, cần có quy trình của xã, của huyện, của tỉnh. Bà cũng nói, nếu địa phương chính thức có văn bản xác nhận về khu mộ tập thể dưới gốc cây, có biên bản của các bên liên quan. Có lời khai của nhân chứng còn sống như cụ Duệ, thì đó sẽ là một căn cứ quan trọng để khởi động lại việc xác minh cho bảy chị. Bà dặn hai người cứ về bàn với xã và với gia đình, đừng tự ý làm gì ở khu gốc cây, nhất là không được đào bới hay di chuyển bất cứ thứ gì khi chưa có quyết định chính thức.

Nam ghi lại đầy đủ danh sách đối chiếu vào sổ tay, ghi cả số lượng năm bộ hồ sơ hoàn chỉnh và bảy trường hợp mất tích, ghi cả lời dặn về văn bản xác nhận nơi an táng. Anh làm việc ấy với sự cẩn thận của một kỹ sư quen lập bảng đối chiếu, nhưng tay anh viết chậm hơn thường lệ. Anh hứa với Lan, ngay trước mặt cán bộ huyện và sau đó nhắc lại một lần nữa khi hai người ra khỏi phòng, rằng anh sẽ tìm cách đưa vị trí hố chôn vào hồ sơ một cách chính thức mà không phải đào lên. Anh chưa biết cách ấy cụ thể là gì. Có thể là một phần trong hồ sơ điều chỉnh tuyến đường, nơi khu gốc cây được khoanh vùng bảo vệ thay vì giải phóng mặt bằng. Có thể là một biên bản hiện trường có đủ chữ ký của xã, của thôn, của gia đình và của đơn vị tư vấn thiết kế. Anh chỉ biết một điều chắc chắn, rằng con đường anh đang phụ trách. Nếu được vẽ lại cho đúng, có thể trở thành căn cứ giấy tờ đầu tiên thừa nhận một cách chính thức rằng dưới gốc cây này có một nấm mồ cần được bảo vệ, chứ không phải một chướng ngại cần được đốn hạ.

Trước khi rời huyện, Nam xin phép được ghi lại thêm một chi tiết vào sổ đối chiếu của mình, chi tiết về tuổi của các chị khi hy sinh mà anh đã nghe trong lễ giỗ. Anh muốn hồ sơ trong tay mình, dù mới chỉ là sổ tay cá nhân, phải đủ cả tên và tuổi, để bất cứ lúc nào mở ra, anh cũng không thể nhìn bảy người bị ghi mất tích như những dòng chữ vô danh nữa. Lan nhìn anh chép, rồi khẽ bảo rằng ở trường cô dạy, học trò của cô có những em gái mười bảy, mười tám tuổi, đúng bằng tuổi em út Đỗ Thị Mai và hai chị Xuân, Hồng khi các chị mất. Mỗi lần dạy tới những em ấy, cô lại nghĩ tới các chị dưới gốc cây, nghĩ rằng ở tuổi học trò ấy, các chị đã cầm tài liệu đi qua bến đò trong đêm và không bao giờ trở về nữa. Cô nói điều ấy không phải để làm Nam nặng lòng thêm. Cô nói để anh hiểu vì sao gia đình cô và làng này không thể coi chuyện hồ sơ là chuyện giấy tờ thuần túy. Mỗi cái tên trong bảy dòng chữ mất tích kia đều gắn với một tuổi người rất trẻ, một gia đình đã chờ đợi rất lâu. Và một ngày giỗ mà năm nào cũng phải đọc tên trong sự lặng lẽ, vì chưa ai dám chắc đọc lớn lên rồi thì giấy tờ có theo kịp hay không.

Trên đường về làng, xe máy chạy qua những cánh đồng đang xanh và những đoạn đường liên xã bụi đỏ. Lan ngồi sau, đội mũ bảo hiểm, im lặng một lúc lâu rồi mới lên tiếng. Gió thổi mạnh nên câu nói của cô nghe không lớn, nhưng Nam nghe rõ từng chữ, rõ đến mức sau này anh còn nhớ nguyên vẹn cả giọng nói bình tĩnh mà đau đáu của cô trong buổi chiều hôm ấy.

- Các chị nằm dưới gốc cây 76 năm, mà trên giấy tờ thì một nửa trong số họ vẫn đang mất tích. Anh bảo thế có phải là chết hai lần không?

Nam không trả lời được ngay. Anh lái xe chậm lại một chút khi tới gần đầu làng, nơi tán hoa đỏ của cây gạo lại hiện ra trên nền trời chiều. Anh nghĩ về mười hai cái tên đã được đọc lên trong đình, về năm bộ hồ sơ đầy đủ và bảy dòng chữ mất tích, về một nấm mồ không bia và một bát hương có mười hai thẻ bài gỗ trong nhà cụ Duệ. Anh thấy câu hỏi của Lan không cần một câu trả lời khéo léo. Nó cần một việc làm cụ thể, bắt đầu từ chính công việc của anh, từ bản vẽ mà anh sẽ phải vẽ lại, và từ sự thật mà anh không thể im lặng thêm một lần nào nữa.

Chương khác

Xem thêm