MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 19: Cây có người nằm
Tối ngày 29 tháng Tư, Nguyễn Hoàng Nam tới nhà thầy Phạm Đức Hảo một mình. Anh đi bộ qua ngõ làng đã lên đèn, mang theo không gì ngoài một câu hỏi của…
Nội dung chương
Tối ngày 29 tháng Tư, Nguyễn Hoàng Nam tới nhà thầy Phạm Đức Hảo một mình. Anh đi bộ qua ngõ làng đã lên đèn, mang theo không gì ngoài một câu hỏi của người làm kỹ thuật mà anh đã giữ trong lòng suốt buổi chiều. Vì sao cả làng tin cây gạo đầu làng không đốn được, và vì sao một người thầy giữ nghề lại từ chối đóng đinh vào nó dù được trả công hậu hĩnh. Anh tới không phải để thuê thầy, không phải để thuyết phục thầy đổi ý, cũng không phải để dò xét thay cho đội thi công. Anh tới để học một bài học nghề mà nghề của chính anh chưa bao giờ dạy cho anh.
Nhà thầy Hảo nằm ở giữa làng, là một ngôi nhà gỗ cũ được giữ gìn cẩn thận, sân lát gạch, một bên là xưởng mộc nhỏ với mùi gỗ mới và mùi dầu bóng thơm nồng. Thầy đang ngồi ở hiên, trước mặt là một bộ đồ nghề mộc xếp ngay ngắn và một ấm trà vừa pha. Thấy Nam tới, thầy không tỏ ra ngạc nhiên. Thầy chỉ gật đầu, rót thêm một chén trà, đẩy về phía chiếc ghế đối diện, như thể thầy đã đoán trước rằng sau buổi sáng với Đức, sẽ có một người khác tới hỏi thầy bằng một tư cách khác vào buổi tối.
Nam ngồi xuống, hai tay ôm chén trà nóng, nói rõ ngay từ đầu rằng anh không đến vì việc thuê thầy trấn cây. Anh nói anh đã dự lễ giỗ hôm qua, đã nghe thầy đọc tên mười hai chị, đã cùng Lan đi tra hồ sơ ở huyện sáng nay và biết chỉ có năm bộ hồ sơ hoàn chỉnh. Anh nói anh chỉ muốn hiểu cho rõ lệ kiêng đốn cây gạo và lệ đóng đinh mà thầy đã nhắc với Đức. Để từ nay anh làm hồ sơ, vẽ bản vẽ hay nói bất cứ câu gì về gốc cây này cũng không nói sai, không làm sai thêm nữa. Thầy Hảo nghe hết, im lặng một lúc, rồi mới chậm rãi giảng cho anh nghe, bằng giọng của một người thợ mộc già giảng cho người học việc, từng ý một, không cao đạo, không dọa nạt.
Thầy bảo, thuật đóng đinh đồng Kim Cang là thuật có thật trong nghề Lỗ Ban mà nhà thầy giữ bốn đời. Cách làm đúng của nó là dùng ba cây đinh đồng khắc bùa Kim Cang, đóng vào thân cây theo hình tam giác, rồi lấy dây tơ tằm bọc vải đỏ quấn quanh thân cây bảy vòng. Thuật ấy chỉ dùng cho cây tà, thứ cây mọc trên đất dữ, tụ âm khí của đất, không có người nằm, tự nó thành nơi trú ngụ của những thứ không sạch sẽ làm hại người qua đường và gia súc trong làng. Với loại cây ấy, đinh đồng khóa mộc có tác dụng như một bức tường chắn âm, đóng vào là việc làm phúc cho làng, người thầy nhận làm không có gì phải áy náy.
Rồi thầy dừng lại, đưa mắt nhìn ra ngoài sân tối, về hướng đầu làng nơi tán cây gạo đang đứng đen đặc trên nền trời, và thầy nói rõ phần quan trọng nhất, phần mà cả buổi sáng thầy chưa giảng hết cho Đức. Cây gạo đầu làng không phải cây tà. Nó là cây có người nằm. Dưới rễ của nó là hài cốt của người làng chết oan, lại là liệt sĩ, những người con gái đã hy sinh mà tới nay một nửa vẫn chưa được công nhận đầy đủ trên giấy tờ. Với loại cây ấy, lệ tổ của nghề Lỗ Ban khóa rất rõ, đinh Kim Cang không được đóng vào. Không phải đóng vào thì đinh sẽ trấn được các chị, mà ngược lại, đinh không những không trấn được gì, đóng vào là mang tội với người chết. Là xúc phạm tới nơi họ nằm, và người thầy nào nhận làm là tự phá lệ tổ của chính nhà mình. Thầy nói đinh đồng chỉ khóa được cây tà tụ âm khí. Nó không khóa được lòng người, càng không khóa được một nấm mồ liệt sĩ.
Nam ngồi nghe mà thấy từng chữ của thầy xếp lại thành một hệ thống rõ ràng, chặt chẽ không kém bất cứ quy chuẩn kỹ thuật nào anh từng học. Nghề nào cũng có giới hạn của nó. Kỹ thuật xây dựng có tải trọng không được vượt, có khoảng cách an toàn không được phá. Nghề Lỗ Ban của thầy cũng vậy, có loại cây được đóng đinh và có loại cây tuyệt đối không được chạm vào. Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ, giới hạn trong nghề của anh được ghi thành văn bản và con số, còn giới hạn trong nghề của thầy được giữ bằng lệ tổ truyền qua bốn đời người và bằng lương tâm của người giữ nghề. Anh hỏi thầy, vậy nếu có người thầy khác ở nơi khác, không biết chuyện của làng này mà nhận lời đóng đinh thì sao. Thầy lắc đầu, bảo người giữ nghề thật sự, trước khi đóng cây đinh đầu tiên, đều phải hỏi và phải xem cho rõ dưới gốc cây có gì. Ai bỏ qua bước ấy vì tiền thì người ấy đã không còn giữ nghề nữa, và việc họ làm sẽ không còn được tổ nghề chứng cho nữa.
Thầy kể thêm một chuyện mà Nam không ngờ tới, chuyện làm căn nhà gỗ cũ bỗng trở nên gần gũi lạ thường với nấm mồ ở đầu làng. Thầy bảo, chính ông nội của thầy là thợ mộc đã từng giúp dân làng đẽo quan tài tạm trong đêm chôn các chị năm 1950. Đêm ấy làng không có đủ quan tài cho mười hai người, gỗ trong làng huy động hết, thợ mộc làm việc thâu đêm dưới ánh đèn dầu, đẽo vội những tấm ván thành hình hài tươm tất nhất có thể cho các chị nằm xuống. Ông nội thầy về nhà lúc gần sáng, tay còn dính nhựa gỗ, chỉ dặn con cháu một câu rằng nhà này từ nay có thêm một lệ. Cây gạo đầu làng là cây có người nằm, con cháu giữ nghề Lỗ Ban đời nào cũng không được động đinh vào đó. Thầy Hảo giữ lệ ấy từ khi học nghề tới giờ, và buổi sáng nay, khi Đức tới đặt vấn đề, thầy từ chối không phải vì thầy muốn đối đầu với dự án đường. Mà vì thầy không thể phá lệ của chính ông nội mình, người đã từng đẽo quan tài cho các chị bằng đôi tay này của nghề mộc.
Thầy còn giảng thêm cho Nam một ý nữa để anh phân biệt cho rõ khi nghe người ngoài bàn tán. Thầy bảo dân làng kiêng ngồi dưới gốc gạo lúc hoàng hôn, kiêng phụ nữ mang thai tới gần trong tháng Ba. Những lệ kiêng ấy là lệ sống của làng để giữ sự tôn trọng với nơi người chết nằm, chứ không phải vì các chị làm hại người đi ngang. Bao nhiêu năm nay, người làng vẫn đi qua gốc cây mỗi ngày, vẫn làm đồng, vẫn ra bến đò, vẫn sống yên ổn cạnh cây, miễn là họ không cầm cưa, cầm rìu, không đào sâu xuống rễ, không làm điều xâm phạm tới thân cây và nấm mồ. Thầy nói nếu các chị thật sự đòi hại người như lời đồn ngoài chợ vẫn thêu dệt, thì làng này đã không thể sống cạnh gốc cây suốt bảy mươi sáu năm như vậy. Lời giảng ấy khớp với tất cả những gì Nam đã tận mắt thấy trong mười ngày qua, từ hàng hoa xếp ngay ngắn không làm ai bị thương. Tới tia nhựa chỉ phun vào người cầm rìu, tới vòng bóng trắng chỉ đứng lặng quanh gốc trong đêm mà không tiến về phía một người sống nào. Anh nghe mà thấy bài học nghề của thầy Hảo, xét cho cùng, cũng là một bài học về ranh giới, ranh giới của cây, của hồn, của nghề và của lòng người. Thứ ranh giới mà nghề kỹ sư của anh lẽ ra phải tôn trọng ngay từ khi đặt bút vẽ đường thẳng đầu tiên qua gốc cây này.
Nam nghe xong, ngồi yên rất lâu. Anh nghĩ tới cuốn sổ của ông Thức trong nhà cụ Duệ, tới bát hương mười hai thẻ bài, tới năm bộ hồ sơ và bảy dòng chữ mất tích, và giờ thêm một câu chuyện nữa về những tấm ván quan tài đẽo vội trong đêm. Mỗi gia đình trong làng này đều giữ một mảnh của đêm năm 1950 ấy bằng một cách riêng, người giữ sổ, người giữ bát hương, người giữ lệ nghề. Chỉ có người ngoài như anh và đội thi công là tới làng với bản vẽ và tiến độ, suýt nữa đã xóa sạch tất cả những mảnh ấy bằng một đường thẳng trên giấy. Anh cảm ơn thầy, nói rằng từ nay anh sẽ ghi nhớ hai chữ người nằm mỗi lần làm việc liên quan tới gốc cây này, và anh sẽ không để ai trong phần việc của mình coi nó là một chướng ngại vô tri nữa.
Trời đã tối hẳn khi Nam đứng dậy ra về. Thầy Hảo tiễn anh ra tới cổng, tay cầm chiếc đèn pin nhỏ soi xuống mặt ngõ lồi lõm. Trước khi anh đi, thầy dặn anh một câu về nghề của mỗi người, giọng thầy đều đều mà nặng, như một lời dặn cho người học việc sắp ra làm nghề một mình. Thầy bảo nghề kỹ sư của anh cũng như nghề mộc của thầy, làm đúng chuyên môn chưa đủ, phải biết chỗ nào là chỗ không được chạm vào, dù bản vẽ, dù tiến độ, dù ai trả tiền cũng không được chạm. Anh gật đầu, hứa sẽ nhớ.
Thầy đứng ở cổng nhìn theo anh một lúc rồi mới nói câu cuối cùng, câu nói mà Nam sẽ còn nhắc lại cho chính mình nhiều lần trong những ngày giằng co sắp tới ở đầu làng.
- Đinh đóng vào gỗ thì rút ra được. Đinh đóng vào lòng người làng này thì không ai rút ra nổi đâu, cậu kỹ sư.
Nam đi bộ về phòng trọ trong đêm, ngang qua gốc cây gạo. Hoa gạo rơi lác đác trong bóng tối, bộp bộp xuống mặt đường vắng. Vết rìu trên thân cây vẫn còn đó, ở độ cao một mét tư phía hướng ra đường, như một lời nhắc về một cây đinh bằng thép khác đã từng chạm vào thân cây này và để lại hậu quả mà cả làng đều thấy. Anh đứng xa nhìn gốc cây một lúc, rồi quay về phòng, mở sổ tay ghi lại nguyên vẹn bài học tối nay, ghi rõ ba cây đinh đồng, hình tam giác, dây tơ tằm bọc vải đỏ quấn bảy vòng. Và ghi đậm dòng chữ cây có người nằm, không được đóng đinh, để bất cứ lúc nào sau này có người nhắc lại ý đồ trấn cây trước mặt anh, anh cũng có đủ lời của người giữ nghề mà đáp lại cho đàng hoàng.