MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 16: Lễ giỗ mười hai người con gái
Ngày 28 tháng Tư, tức ngày 12 tháng Ba âm lịch, là ngày giỗ tập thể của làng Xuân Đào cho mười hai nữ du kích. Nguyễn Hoàng Nam tới đình làng từ rất sớm,…
Nội dung chương
Ngày 28 tháng Tư, tức ngày 12 tháng Ba âm lịch, là ngày giỗ tập thể của làng Xuân Đào cho mười hai nữ du kích. Nguyễn Hoàng Nam tới đình làng từ rất sớm, khi sân đình còn ướt sương và mấy bà trong làng đang quét lại sân, kê thêm bàn ghế, rửa lá dong và chuẩn bị hương hoa. Anh mặc áo sơ mi trắng, quần sẫm màu, đứng ở góc sân một lúc không biết nên phụ việc gì, cho tới khi Nguyễn Thị Lan tới, đưa cho anh một bó hương và bảo anh cứ theo cô, việc gì làm được thì làm, không cần khách sáo. Cô hôm nay mặc áo dài sẫm màu, tóc búi gọn, mặt trang nghiêm khác hẳn vẻ linh hoạt thường ngày ở trường học và ở nhà cụ.
Đội thi công tới gần như đủ, theo lời dặn của Phạm Văn Đức từ sáng sớm. Đức đi đầu, áo sơ mi cài kín cổ, sau lưng là Lê Văn Hậu, Vũ Văn Bộ và mấy công nhân còn ở lại đội. Người xin nghỉ hẳn hôm trước không có mặt, Tú đang nằm trạm xá cũng vắng, nhưng số người tới vẫn đông hơn Nam nghĩ. Đức dặn lại cả đội một lần nữa ngay ở cổng đình, giọng nhỏ mà nghiêm, rằng hôm nay đứng sau hàng dân làng, không nói chuyện, không chụp ảnh, điện thoại tắt chuông, ai mệt thì ra ngoài sân đứng, tuyệt đối không bỏ về giữa lễ. Không ai cãi. Họ đứng thành một hàng lặng lẽ ở phía sau, tay chắp trước bụng, mắt nhìn xuống sân đình còn loang nước.
Trưởng thôn Vũ Văn Thành có mặt từ sớm, đi lại kiểm tra từng việc, nhưng người chủ trì buổi lễ là cụ Nguyễn Văn Duệ và thầy Phạm Đức Hảo. Thầy Hảo hôm nay mặc áo nâu sẫm của người làm nghề cũ, tay cầm một cuốn sổ nhỏ ghi chép việc lễ của làng. Cụ Duệ chống gậy ngồi ở ghế trên trong đình, trước mặt là bát hương lớn và hai mâm lễ đã bày sẵn, một mâm sẽ cúng ở đình, một mâm sẽ đưa ra dưới gốc cây gạo sau phần đọc tên. Dân làng tới dần, đông kín sân đình, người già ngồi trong đình, người trẻ đứng ở hiên và sân, trẻ con được dặn đứng yên bên cạnh cha mẹ, không chạy chơi như ngày hội làng.
Phần lễ diễn ra chậm rãi và lặng lẽ, không loa đài, không văn nghệ, không bài phát biểu nào của chính quyền. Sau tuần hương đầu, thầy Hảo đứng dậy, mở cuốn sổ, nhìn cụ Duệ một cái. Cụ gật đầu rất khẽ. Cả đình im phăng phắc. Thầy Hảo bắt đầu đọc tên, chậm rãi, rõ từng chữ, kèm tuổi của từng người khi mất, như đọc một danh sách đã thuộc nằm lòng nhưng mỗi năm chỉ được đọc lớn lên một lần duy nhất trước mặt cả làng.
Người đầu tiên là đội trưởng Nguyễn Thị Mận, 26 tuổi. Khi cái tên ấy vừa vang lên, thầy Hảo dừng lại. Không phải thầy quên chữ. Cả đình đều thấy cụ Duệ ngồi ở ghế trên khẽ cúi đầu xuống, hai tay nắm chặt đầu gậy, vai run lên một cái rất nhẹ. Thầy Hảo cũng dừng lại rất lâu mới đọc tiếp được, và trong lúc dừng ấy, Nam hiểu ra điều mà cả làng đều đã biết từ lâu, còn anh thì tới giây phút này mới biết. Đội trưởng Nguyễn Thị Mận là mẹ ruột của cụ Duệ. Cụ là con trai duy nhất của chị. Cụ đã sáu tuổi khi mẹ hy sinh, và cụ đã sống tám mươi hai năm trên đời này. Giữ ngày giỗ của mẹ mình cùng mười một người đồng đội của mẹ trong một bát hương riêng ở nhà và trong một nấm mồ chung không bia ở đầu làng.
Thầy Hảo đọc tiếp. Phạm Thị Sen, 24 tuổi. Trần Thị Liễu, 23 tuổi. Vũ Thị Hạnh, 22 tuổi. Nguyễn Thị Đào, 21 tuổi. Đỗ Thị Nhài, 20 tuổi. Phạm Thị Cúc, 20 tuổi. Trần Thị Huệ, 19 tuổi. Lê Thị Thắm, 19 tuổi. Vũ Thị Xuân, 18 tuổi. Nguyễn Thị Hồng, 18 tuổi. Và người cuối cùng, em út của tổ, Đỗ Thị Mai, 17 tuổi.
Mười hai cái tên, mười hai tuổi đời, không một ai trong số họ quá hai mươi sáu tuổi, không một ai kịp lấy chồng, sinh con như cách người làng vẫn hình dung về một đời người con gái trọn vẹn. Nam đứng ở hàng sau, nghe từng cái tên đi qua tai mình mà thấy cổ họng nghẹn lại. Anh nhớ tới mười hai thẻ bài gỗ trong nhà cụ, nhớ tới mười hai bông hoa xếp hàng hướng về bến đò, nhớ tới vòng bóng trắng đứng quanh gốc cây đêm qua. Giờ đây mỗi con số mười hai ấy đã có tên người cụ thể. Họ không còn là các chị trong lời đồn mơ hồ nữa. Họ là Mận, là Sen, là Liễu, là Hạnh, là Đào, là Nhài, là Cúc, là Huệ, là Thắm, là Xuân, là Hồng, là Mai, những người con gái có họ, có tên, có tuổi, có một đêm cuối cùng ở bến Đò Ngang vào năm 1950.
Sau phần đọc tên ở đình, đoàn người lặng lẽ di chuyển ra gốc cây gạo. Mâm lễ được đặt trước bát hương đá ở phía gốc hướng ra sông, bên cạnh tấm bia đá không chữ mà Nam đã thấy từ những ngày đầu. Dân làng đứng thành vòng rộng quanh gốc cây, đội thi công đứng ở vòng ngoài cùng phía đường. Cụ Duệ được Lan dìu ra, đứng trước mâm lễ, thắp hương và khấn rất khẽ, không ai nghe rõ cụ khấn gì ngoài mấy người đứng gần nhất. Thầy Hảo đứng bên cạnh, đọc thêm một bài khấn ngắn bằng giọng trầm đều. Hoa gạo trong buổi sáng ngày giỗ rơi lác đác như thường lệ, không rụng đồng loạt, chỉ thỉnh thoảng một bông rời cành, rơi xuống mâm lễ và mặt đất, bộp một tiếng nhỏ giữa sự im lặng của hàng trăm người.
Trong bữa cơm giỗ sau lễ, được dọn ở sân đình với những món đơn sơ của làng quê, Nam được nghe kể vắn tắt về đêm bến đò năm 1950 qua lời của mấy bà cao niên và qua phần tiếp lời dè dặt của Lan. Anh nghe rằng tổ du kích nữ hôm ấy chuyển tài liệu qua sông trong đêm, bị phục kích và bắn chết tại bến Đò Ngang, rằng giặc cấm dân làng chôn cất. Rằng dân làng đã phải chờ tới đêm hôm sau mới dám làm một việc mà tới giờ làng vẫn chỉ kể cho nhau nghe trong ngày giỗ. Anh không hỏi dồn. Anh biết cụ đã hẹn qua giỗ hẵng hay cho tầng sâu nhất, và anh tôn trọng thứ tự ấy, nhất là sau khi vừa nghe mười hai cái tên đọc lên trong đình.
Cũng trong bữa cơm ấy, ý tưởng xây một miếu nhỏ thờ các chị dưới gốc cây được nhắc ra lần đầu. Người nhắc là một bà cao niên ngồi cùng mâm với cụ Duệ, bà nói như buột miệng mà cả mâm đều lặng đi nghe, rằng các chị nằm ở gốc cây mấy chục năm. Có ngày giỗ, có bát hương, mà chưa có một nơi thờ tự đàng hoàng nào cho người qua đường biết mà thắp hương, cứ để bia không chữ mãi thì tội cho các chị. Mấy người gật đầu, người thì bảo phải chờ làng bàn kỹ, người thì bảo đất ở gốc cây là đất chung, xây miếu không khó, khó là giấy tờ và lòng người cho thống nhất. Cụ Duệ nghe hết, không gật, không lắc, chỉ nói làng sẽ bàn sau. Nhưng Nam ngồi ở mâm bên cạnh nghe được, và anh ghi nhớ ý tưởng ấy, vì anh cảm thấy nó sẽ còn trở lại. Không phải như một câu nói buột miệng trong bữa cơm giỗ, mà như một việc làng này sớm muộn cũng phải làm nếu muốn nấm mồ ở đầu làng thôi là một bí mật.
Khi đoàn người từ đình di chuyển ra gốc cây, Nam đi ở gần cuối hàng, bên cạnh Hậu. Hậu đi rất chậm, mắt cứ nhìn xuống lớp hoa rụng trên mặt đường, rồi khẽ nói với Nam rằng đêm qua anh cũng thấy vòng bóng trắng ấy từ lán. Và sáng nay nghe đọc tên, anh mới thấy những bóng trắng ấy không còn đáng sợ như anh từng nghĩ trong những đêm đầu. Anh nói họ đứng yên như thế, có tên như thế, trẻ như thế, thì người sợ phải là người đang định cầm rìu chặt cây của họ, chứ không phải người chỉ đi ngang qua mà biết cúi đầu. Nam nghe xong không đáp, chỉ gật đầu. Anh nghĩ Hậu, công nhân trẻ nhất đội, nhẹ vía nhất đội, lại là người nói được câu đúng nhất trong buổi sáng ngày giỗ này. Đúng hơn mọi báo cáo sự cố và mọi lời cam kết tiến độ mà anh từng nghe ở lán trại trong suốt mười ngày qua.
Cuối buổi, khi khách khứa và đội thi công đã tản dần, cụ Duệ gọi Nam lại ở hiên đình. Cụ lấy từ trong túi áo ra một cuốn sổ tay bìa vải đã sờn, mép giấy ngả vàng, chỉ cho Nam xem thoáng qua rồi lại cất đi, không để anh cầm. Cụ nói cuốn sổ này là của cha cụ để lại. Nam nhìn thoáng thấy bên trong có những dòng chữ viết tay đã mờ và một danh sách chép tay, nhưng anh không đọc kịp chữ nào. Cụ nhìn anh, giọng chậm rãi như lúc sáng trong đình khi nghe đọc tên mẹ mình.
- Tên các chị thì làng biết cả. Nhưng giấy tờ của nhà nước thì chưa chắc đâu, cậu kỹ sư ạ.
Nam gật đầu, trong lòng đã đoán được phần nào điều cụ sắp mở ra cho anh ở tầng tiếp theo, sau ngày giỗ này. Mười hai cái tên anh vừa nghe đọc lên giữa đình làng, vang rõ trước mặt hàng trăm người, có thể vẫn chưa đứng đủ trên bất cứ bộ hồ sơ chính thức nào của nhà nước. Và anh, một kỹ sư thiết kế đường vừa bị kéo vào câu chuyện này bằng một khúc xương, một mảnh vải và một đêm đứng nhìn bóng trắng. Bỗng thấy mình sắp phải đối diện với một thứ giấy tờ còn lạnh lùng hơn cả bản vẽ tuyến đường thẳng. Thứ giấy tờ đã để một nửa trong số mười hai người con gái ấy nằm dưới gốc cây suốt bảy mươi sáu năm mà vẫn bị gọi là mất tích.