MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 15: Đêm trước giỗ
Đêm 27 rạng ngày 28 tháng Tư, làng Xuân Đào tắt đèn sớm một cách bất thường. Mới hơn chín giờ tối, những ánh đèn vàng quen thuộc ở các nhà quanh đầu làng…
Nội dung chương
Đêm 27 rạng ngày 28 tháng Tư, làng Xuân Đào tắt đèn sớm một cách bất thường. Mới hơn chín giờ tối, những ánh đèn vàng quen thuộc ở các nhà quanh đầu làng đã lần lượt tắt hết, chỉ còn đèn đường ở ngã ba xã hắt xuống một quầng sáng mờ và ánh đèn pin thỉnh thoảng quét qua từ phía lán trại. Nguyễn Hoàng Nam ngồi trong phòng trọ sát đầu làng, căn phòng anh thuê từ ngày đầu về khảo sát, cửa sổ mở hé nhìn ra đoạn đường dẫn tới gốc cây gạo. Anh ở lại qua đêm ở đây vì sáng mai được hẹn dự lễ giỗ ở đình từ sớm, và cũng vì trong lòng anh, từ sau buổi sáng ở nhà cụ Duệ, có một sự chờ đợi không gọi tên được.
Anh đi một vòng quanh đầu làng lúc chập tối và thấy điều Lan đã dặn trước. Trước cổng của hầu hết các nhà quanh gốc cây, người làng đều đặt một bát nước trong và một nén hương đang cháy. Có nhà đặt thêm một đĩa muối nhỏ, có nhà chỉ đặt bát nước không. Không ai nói với ai, không ai đứng lại xem nhà khác đặt gì. Họ làm việc ấy như một lệ cũ đã thuộc nằm lòng, làm xong thì đóng cổng, tắt đèn, để mặc hương cháy đỏ trong đêm và bát nước lặng lẽ phản chiếu ánh sao. Mùi hương trầm mỏng bay dọc con ngõ tối, quyện với mùi hoa gạo và mùi sông nước, khiến cả đầu làng như đang nín thở chờ một biến cố sắp tới.
Ở lán trại bên bến đò, Lê Văn Hậu trực đêm. Nam biết lịch trực ấy vì chiều nay Đức đã báo cho anh khi hai người gặp nhau ở sân lán. Đức bảo đêm nay đội giữ nguyên người trực như thường lệ, không tăng, không giảm, chỉ dặn người trực không được ngủ quên và không được lại gần gốc cây trong bất cứ trường hợp nào. Hậu là người trực chính. Anh đã nghe tiếng ru con từ đêm đầu tiên đội dựng lán, đã thấy bóng trắng một mình trong sương đêm 22, và theo lời Đức kể lại với Nam sau này trong đêm ấy, chính Hậu là người đầu tiên nghe thấy âm thanh trở lại.
Khoảng nửa đêm, tiếng ru con vang lên. Nam nghe thấy nó ngay trong phòng trọ của mình, dù cửa sổ chỉ mở hé. Ban đầu anh tưởng là tiếng một người mẹ nào trong làng ru con ngủ muộn, vì âm thanh ấy rất giống tiếng ru thật, đều đều, nỉ non, lên xuống theo một nhịp chậm, không có lời rõ ràng, chỉ có những tiếng ầu ơ kéo dài. Nhưng càng nghe, anh càng thấy nó không giống tiếng ru phát ra từ một ngôi nhà cụ thể nào. Nó vẳng tới từ phía tán cây gạo, rõ hơn mọi đêm trước mà anh từng nghe người ta kể, đều và gần, gần đến mức anh có cảm giác người ru đang đứng ngay dưới gốc cây trong bóng tối, quay mặt về phía bến đò.
Nam ngồi dậy trên giường, chân chạm xuống nền gạch lạnh. Anh không bật đèn. Anh nghe tiếng ru ấy thêm một lúc lâu, cố phân biệt xem có phải gió thổi qua tán cây tạo thành âm thanh giống tiếng người hay không, cố tìm một cách giải thích quen thuộc của một kỹ sư quen đo đạc và số liệu. Nhưng đêm nay gió rất nhẹ, tán cây gần như không động, vậy mà tiếng ru vẫn đều đặn vang lên, không nhanh, không chậm, không đứt quãng. Hoa gạo bắt đầu rụng. Từng bông một rơi xuống mặt đường và mái tôn của những nhà gần gốc cây, bộp, bộp, đều đặn như có ai đang đếm, như một chiếc đồng hồ bằng hoa đang gõ nhịp cho tiếng ru trong đêm.
Cùng lúc ấy ở lán trại, theo lời Đức kể lại cho Nam vào sáng hôm sau, Hậu đánh thức Đức dậy. Hậu không la hét, không hoảng loạn như lần đầu. Anh chỉ lay vai Đức và nói một câu rất khẽ, rằng tiếng ru hôm nay gần lắm, anh Đức ra mà nghe. Đức choàng dậy, khoác áo, bước ra hiên lán cùng Hậu. Hai người cùng nhìn về phía gốc cây và cùng thấy một cảnh mà lần này không còn là chuyện một người thấy, một người không. Trong sương mỏng bốc lên từ mặt sông và từ lớp hoa rụng ẩm sương, những bóng áo trắng dài đứng lặng thành một vòng quanh gốc cây. Đầu của các bóng ấy chìm trong bóng tối của tán lá nên nhìn thoáng qua tưởng như không có đầu, chỉ có những thân áo trắng dài đứng yên, quay mặt vào thân cây, không động đậy, không tiến lại gần lán trại một bước nào.
Nam, ở phòng trọ của mình, cũng mở cửa ra hiên vào đúng khoảng ấy. Anh không biết sau này mình lấy đâu ra can đảm để mở cánh cửa ấy. Có lẽ vì tiếng ru đã kéo anh ra, cũng có lẽ vì lời hẹn ngày mai ở đình khiến anh thấy mình không thể nằm trong phòng mà giả vờ không nghe, không thấy gì nữa. Anh bước ra hiên, tay nắm chặt lan can gỗ đã lạnh sương, và nhìn về phía gốc cây qua màn sương mỏng.
Từ khoảng cách của phòng trọ sát đầu làng, anh nhìn thấy vòng bóng trắng ấy. Lần đầu tiên trong đời, Nguyễn Hoàng Nam tận mắt chứng kiến hiện tượng mà bấy lâu nay anh chỉ nghe qua lời kể của Hậu, qua lời kể của Tú, qua sự im lặng của cả một làng. Những bóng áo trắng dài đứng lặng quanh gốc, thành một vòng không khép kín hẳn ở phía hướng ra bến đò, như chừa lại một lối đi nào đó từ sông lên. Anh không đếm được có bao nhiêu bóng. Anh cũng không nhìn rõ mặt, rõ người. Anh chỉ thấy áo trắng, thấy sự đứng lặng tuyệt đối của họ, thấy họ không hề hướng về phía anh hay phía lán trại. Mà chỉ đứng quanh thân cây của mình, như những người canh giữ một nơi chốn, hoặc như những người trở về nhà trong đêm trước ngày giỗ của chính mình.
Anh không dám lại gần. Hai chân anh như bị giữ chặt ở hiên phòng trọ. Anh đứng đó rất lâu, nghe tiếng ru con vẫn đều đều vang lên từ tán cây, nghe hoa gạo rơi bộp bộp xuống mặt đường, nhìn vòng bóng trắng đứng yên trong sương mà không nói được một lời nào. Ở phía lán trại, anh biết Đức và Hậu cũng đang đứng nhìn như anh, nhưng ba người ở ba vị trí khác nhau trong đêm ấy không ai gọi ai, không ai nói với nhau một lời nào trong suốt lúc đứng nhìn. Sự im lặng ấy không phải vì họ hẹn trước. Nó tự đến, như thể bất cứ tiếng nói nào của người sống lúc ấy cũng sẽ là một sự xúc phạm không đáng có.
Trong lúc đứng ở hiên, Nam nghĩ tới rất nhiều điều cùng một lúc, mà điều nào cũng làm anh thấy mình nhỏ bé. Anh nghĩ tới bản vẽ tuyến đường thẳng vẫn còn nằm trong cặp hồ sơ ở phòng trọ, với dòng chữ chướng ngại số 7 ghi bên cạnh gốc cây. Anh nghĩ tới mảnh vải mục anh đang giữ, tới khúc xương anh chỉ nhìn thấy qua vệt đất mới lấp, tới bàn tay Tú quấn gạc và gương mặt Kiên trắng bệch trong phòng cấp cứu. Tất cả những mảnh rời rạc ấy, cho tới đêm nay, vẫn còn là những mảnh rời rạc trong đầu một người kỹ sư quen ghép số liệu thành hồ sơ. Đêm nay, khi vòng bóng trắng đứng lặng quanh gốc cây trước mắt anh, những mảnh ấy bỗng tự xếp lại thành một hình hài duy nhất. Dưới gốc cây này có một nấm mồ chung. Trong nấm mồ ấy là những người con gái của làng này. Và họ, bằng một cách mà anh không giải thích được và cũng không còn muốn giải thích cho qua, vẫn ở đây, trong tháng Ba này, quanh gốc cây đã ôm rễ vào nấm mồ của họ suốt mấy chục năm. Anh đứng cách họ một đoạn đường, trong phạm vi ngoài tán cây, và anh thấy rõ một điều nữa mà sau này anh sẽ còn nghĩ tới nhiều lần. Họ không hề nhìn về phía anh. Họ không hề bước ra khỏi bóng cây. Sự hiện diện của họ lớn đến mức làm người ta nổi da gà, nhưng nó có một ranh giới rất rõ, và ranh giới ấy chính là tán cây và rễ cây của họ. Ngoài ranh giới ấy, làng vẫn ngủ yên, chó vẫn nằm im trong sân, và những bát nước trước cổng các nhà vẫn lặng lẽ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Không biết đã bao lâu trôi qua. Có thể là mười phút, có thể là nửa giờ. Tiếng ru con thưa dần, không tắt hẳn đột ngột mà nhỏ lại từng chút, như người ru đã ru xong một lượt và đang ngừng lại để nghe ngóng. Hoa gạo vẫn rơi, nhưng thưa hơn. Vòng bóng trắng bắt đầu tan dần vào sương, không phải biến mất trong chớp mắt như trong những câu chuyện ma người ta vẫn kể cho nhau nghe để dọa nhau, mà mờ đi từng bóng một. Bóng ở phía bến đò mờ trước, rồi tới những bóng ở hai bên, cuối cùng chỉ còn tán cây đen đặc và thân cây đầy gai đứng lặng trong đêm như mọi đêm khác ở đầu làng này.
Gần sáng, khi sương đã dày hơn và gà trong làng bắt đầu gáy những tiếng đầu tiên, Nam mới quay vào phòng, người lạnh cóng dù đêm tháng Tư không hề rét. Anh ngồi xuống mép giường, hai tay còn run nhẹ, và anh hiểu rằng từ đêm nay, anh không còn có thể tự nhủ rằng những chuyện ở gốc cây này chỉ là lời đồn, là sự trùng hợp của máy móc cũ và tâm lý đám đông. Anh đã thấy. Bằng chính mắt mình, ở khoảng cách xa, trong giới hạn của tán cây và bóng đêm tháng Ba, anh đã thấy họ đứng quanh gốc cây của mình, hiền lành và lặng lẽ, không làm hại ai, không tiến về phía ai.
Sáng sớm, khi Nam tới lán trại để cùng đội sang đình, Đức nhìn anh một cái rất lâu rồi nói khẽ, như nói với chính mình hơn là nói với anh hay với Hậu đang đứng bên cạnh.
- Ngày mai giỗ các chị, bảo anh em đứa nào cũng phải có mặt, đứng cho đàng hoàng.
Hậu gật đầu. Nam cũng gật đầu. Không ai nhắc lại chuyện vòng bóng trắng đêm qua nữa. Họ để dành sự im lặng ấy cho buổi lễ sắp tới, nơi những cái tên sẽ lần đầu tiên được đọc lên trước mặt người ngoài. Và nơi anh sẽ hiểu thêm một tầng nữa về những người con gái đã đứng quanh gốc cây trong đêm trước ngày giỗ của chính họ.